Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

Cuộc Hành Trình Trên Biển Cả

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Bão biển đã sáu ngày liền. Con tàu kêu răng rắc, đảo dọc rồi lại đảo ngang, lao lên trời tối om rồi lại rơi xuống hố đen ngòm. Bởi trời thì tối om, hố thì đen ngòm cho nên chúng tôi chỉ có thể ước đoán, vì từ năm ngày nay họ cấm chúng tôi, hành khách đi tầu, không được lên boong tàu, mà thực ra cũng chẳng có ai muốn lên trên đó làm gì. Nhà hàng thì đóng cửa, thức án thì các chiêu đãi viên mang đến từng phòng.
Cho nên chúng tôi chỉ có ngồi, thực ra là nằm trong các khoang phòng. Nói một cách chính xác, chỉ có mỗi mình tôi phải nằm mà thôi, vì tôi bị say sóng, còn bạn đồng hành của tôi không bị. Bão mạnh tới mức nào thì nỗi sợ hãi của tôi đã nói hộ, thường thường bệnh say sóng khiến người ta trở nên thờ ơ với mọi thứ. Nhưng bây giờ thì ngay đến chuyện say sóng cũng chả là gì so với nỗi sợ bị đắm tàu trên đại dương.
Gã đàn ông ở cùng phòng với tôi không say sóng mà cũng chẳng có sợ gì. Anh ta bình thản đọc tờ báo phát hành cách đây một tuần mà nhẽ ra cái điều có thể xẩy ra với chúng tôi bất kì lúc nào phải làm cho anh ta không muốn đọc tí nào, cho dù báo ra ngày hôm nay. Tôi phục lăn anh ta và rốt cuộc tôi thể hiện điều này:
- Tôi phục anh đó, quả thực anh là một người rất can đảm.
Gã gập tờ báo lại, đoạn trả lời:
- Không phải vậy đâu, đơn giản là không có lý do gì để mà sợ.
- Ngay đến những con tàu tuyệt hảo mà còn bị chìm nữa là. Tỉ dụ Titanic.
- Titanic, đúng, nhưng đâu phải là chúng ta.
- Mà tàu của chúng ta còn nhỏ hơn Titanic.
- Nhưng chúng mình đã được đóng trong chai.
- Chắc anh định nói bóng gió cái gì đó?
- Không phải, tôi nói hoàn toàn đúng nghĩa đen. Thế có khi nào ông nhìn thấy một con tàu ở trong ruột chai? Thậm chí là những chiếc thuyền buồm với những cánh buồm càng phồng...
Một tác phẩm cực kỳ sáng tạo.
- Tôi dã nhìn thấy đấy, thế thì đã sao nào?
- Chai thì bao giờ cũng được gắn xi. Vậy có khi nào ông thấy một cái chai có không khí ở bên trong, được gắn xi hẳn hoi lại bị chìm không nào?
- Dĩ nhiên là không rồi, vì nếu chìm thì trái với định luật vật lý.
- Chính thế đấy. Con tàu của chúng ta và chúng ta cùng với con tàu đang ở trong một cái chai như vậy. Nằm trong nhau thì chẳng thú vị gì, nhưng nhờ đó mà không bao giờ chúng ta bị chìm cả.
Tôi hiểu ra rồi, cái bình thản của gã chẳng qua là cái bình thản của một thằng điên. Nhưng tôi cũng cần phải ra bộ là tôi coi trọng nhưng lý lẽ của hắn. Dại gì lại đi chọc tức một thằng điên.
- Tôi thì tôi chưa dám tin hoàn toàn - tôi nói thận trọng - Tôi đã đi dạo khắp boong tàu mà chả nhìn thấy gì cả.
- Ông không thể thấy được đâu. Chai làm bằng thủy tinh, mà thủy tinh thì trong suốt.
- Nhưng còn nắp chai? Chí ít thì tôi cũng phải nhìn thấy cái nắp chai chứ...
- Nắp chai cũng bằng thủy tinh, toàn bộ cái chai được đổ bằng một thứ thủy tinh như vậy, được gắn xi từ khi ra đời, cho nên ngay đến cả chuyện nắp chai cũng khó nói. Không có cách nào ra khỏi cái chai này đâu. Toàn bộ bí mật của tác phẩm này là ở chỗ đó, một tác phẩm chẳng dễ chịu gì đối với chúng ta, những kẻ đang ở trong chai, như tôi đã nói ở trên.
- Không, không thể như vậy được! - Tôi thét lên.
- Vì sao nào?
- Vì không có cái chai nào lại to đến như vậy.
- Dĩ nhiên là không rồi.
- Vậy thì sao?
- Không có cái chai nào lại to đến như vậy, có điều hếu anh có dám chắc rằng chúng ta không phải là bé như con kiến?
Tôi im luôn. Và im đến tận bây giờ.
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Tổng Thống Xứ Mơ

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Mơ thường trái hẳn với thực, chẳng phải vậy sao? Trong mơ những mong ước thiêng liêng nhất của chúng ta đều được thực hiện. Khi ta mơ thấy được vàng ấy là khi trong đời ta không một xu dính túi. Nói gọn lại, tương tự như ví dụ này, bạn có thể dễ dàng hình dung tình hình chính trị và xã hội của Xứ Mơ là thế nào.

Tôi chỉ xin nói một điều: ở Xứ Mơ người công dân mẫu mực nhất hoàn toàn không phải là người làm lụng nhiều hơn những người khác, luôn luôn tất bật vội vàng, mà là người lười hơn những người khác, suốt ngày chỉ nằm ườn trên đi-văng ở nhà mình. Vì thế dễ hiểu là người đứng đầu nhà nước Xứ Mơ được bầu không phải là người chăm làm nhất, mà là người vô công rồi nghề nhất.

Trong đời thực tất nhiên bạn biết ai là người cứ tìm cách lẩn tránh liềm búa hơn những người khác. Nhưng vốn dĩ có những người lại coi cái việc nằm dài trên đi-văng và mơ giữa ban ngày gần như là một thứ nghề. Đó là ai vậy, bạn sẽ hỏi. " Ai" là thế nào? Các nhà thơ.

Thế là ta đã đến được bản chất rồi đấy: người đứng đầu nhà nước Xứ Mơ, một nhà nước sung sướng nhất, giàu có nhất, tự do nhất trên thế giới, là một nhà thơ.

Xứ Mơ lẽ dĩ nhiên là xứ cộng hòa. Ở đấy chủ và tớ, giàu và nghèo, lớn và nhỏ, mạnh và yếu thật sự ngang hàng nhau. Và chỉ nhờ trí tuệ siêu việt thì đệ nhất nhân của nước cộng hòa, vị tổng thống của nó, nhà thơ vĩ đại nhất Xứ Mơ được bầu hàng năm theo lối vỗ tay mới nổi bật lên giữa các công dân khác.

Bởi ở Xứ Mơ, giống như trong đời thực, có nhiều, rất nhiều nhà thơ. Và nhiều, rất nhiều nhà thơ vĩ đại nhất. ở đây cũng vậy, dù nói về bất kỳ nhà thơ nào, giới phê bình đều buộc phải gọi người đó là " một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của nước nhà" . Vì vậy mỗi nhà thơ tương đối sạch nước cản một chút đều nhất quyết coi mình là vĩ đại. Không coi thế nói chung không thể thành nhà thơ được. Nhưng vì, như tôi đã nói, ở Xứ Mơ có nhiều nhà thơ vĩ đại nhất, nên ở đấy hàng năm người ta lại bầu tổng thống mới để mỗi nhà thơ vĩ đại nhất đều có thể đến lượt được làm.

Vậy là vào cái thời đang nói đến trong truyện này, Xứ Mơ lại sinh ra rất nhiều nhà thơ. Hồi đó ở đấy có một nhà thơ trẻ tên là Ghergay Estever. Cố nhiên, anh ta cũng là một trong những nhà thơ vĩ đại nhất của đất nước mình và không thể nào đợi được đến cái giờ khắc, khi sau tất cả các đối thủ của mình anh ta cuối cùng chiếm được chiếc ghế tổng thống. Luôn luôn anh ta bị đánh trượt tại các cuộc bầu. Bao giờ người ta cũng kiếm được một cái cớ ngu ngốc nào đấy để loại anh ta ra, dù cho năm này qua năm khác anh ta có tận tâm đến đâu và thành thục đến đâu trong nghề ghép vần làm thơ.

Rốt cuộc Ghergay Estever buộc phải thừa nhận bằng lao động trung thực anh ta không bao giờ đạt được cái gì cả. Và điều đó làm anh rất đau buồn.

Cách thủ đô Xứ Mơ không xa có một cái vực sâu. Một hôm Ghergay Estever đội mũ, dáng vẻ đau khổ, đi đến cái vực ấy. Anh lần ra sát mép vực, cởi mũ vất xuống đất. Xong anh quay về lại thủ đô.

Anh ta quay về thật. Nhưng ở đây có một điều quan trọng cần nhớ.

Trước đó Ghergay Estever đã kiếm được ở một gã buôn quần áo vũ hội hóa trang một chiếc áo choàng tu rộng và một bộ râu giả dài nửa mét. Anh ta cuộn tròn chúng cắp nách, sau khi ném chiếc mũ xuống bờ vực anh ta mặc áo choàng và đeo râu vào. Xong xuôi anh ta quay lại thủ đô mà không ai nhận ra.

" Ghergay Estever làm thế là có ý đồ gì?" - bạn chắc sẽ hỏi. Điều này không khó đoán ra. Anh ta muốn dự đám ma mình. Muốn biết anh ta nổi tiếng ở trong nước đến mức nào và còn chuyện khác nữa. Nhưng trước hết - nổi tiếng đến mức nào.

Bởi vì đáng tiếc, cũng như trong đời thực, ở Xứ Mơ mọi người yêu người chết hơn người sống. Mộ của các nhà thơ chẳng hạn, bao giờ cũng được phủ đầy các vòng nguyệt quế và những lời đẹp đẽ mà sinh thời họ không bao giờ được nhận.

Vậy là Ghergay Estever nảy ra kế hoạch táo bạo xóa bỏ sự bất công đó. Vâng, tôi quên nói là tại nhà mình Ghergay đã để lại trên bàn một mảnh giấy ghi dòng chữ:

" Tôi đã mệt mỏi vì cuộc sống. Xin đừng tìm tôi. Chúc hạnh phúc!" .

Ngày hôm sau, khi mảnh giấy này được phát hiện, sự biến mất bất ngờ và bi thảm của nhà thơ Ghergay Estever đã gây nên một cơn chấn động thực sự tại thủ đô Xứ Mơ.

Sang ngày thứ ba lại một tin chấn động lớn nữa: người ta đã tổ chức tìm kiếm Ghergay Estever, nhưng không thấy xác anh ta đâu, mà chỉ thấy cái mũ của anh ta bên bờ vực.

Tờ báo lớn nhất nước đưa tin về cái chết của anh ta thay cho bài xã luận. Một tờ báo lớn nhất nước khác cũng ở chỗ bài xã luận đã viết một cách xỏ xiên: dĩ nhiên, sinh thời trên những tờ báo chúng ta biết Ghergay Estever chỉ được nhắc đến trong các bài bình luận của ban biên tập, mà lại ở trong số các tác giả bị phê phán.

Các biến cố đã diễn ra như vậy. Do không thể nào tìm được xác người quá cố dưới vực sâu nên người ta quyết định tổ chức tang lễ tượng trưng cho Ghergay Estever xấu số, một tang lễ tưng bừng và trang trọng. Nhà triệu phú thứ nhất trong nước không tiếc tiền mua một phiến đá thật đẹp làm mộ chí. Một nhà triệu phú thứ nhất khác trong nước thành lập quỹ ôĐóng góp xây mộ chí Ghergay Esteverọ - quỹ này nhằm giúp đỡ cho những nhà thơ trẻ hăng say như Ghergay Estever.

Có biết bao bài điếu văn, bao lời ca tụng đã được đọc trước mộ anh ta? Tôi chỉ xin nói rằng kẻ kình địch điên cuồng nhất của anh, đối thủ của anh, người trong số các nhà thơ vĩ đại nhất nước bao giờ cũng được nhắc tên ngay sau Ghergay, đã đọc một bài vĩnh biệt Estever nồng nàn nhất, thấm thía nhất. Kẻ ấy đã ném vào đất nước mình lời buộc tội: đứa con vĩ đại của đất nước đã giã từ cuộc sống bởi vì lẽ ra từ lâu anh ta đã phải được ngồi vào chiếc ghế tổng thống, thái độ coi thường việc đề cử anh ta như vậy khiến tôi hết sức đau buồn. Còn bây giờ? Chẳng lẽ trong nước ta còn có ai xứng đáng ở vào vị trí của anh ta?.. Cứ thế lời lẽ tuôn ra theo tinh thần đó. Ghergay Estever giờ đây không có khuyết điểm. Chỉ có ánh hào quang bao phủ diện mạo anh ta đã được khúc xạ qua ký ức tốt đẹp của những người cùng tổ quốc.

Trong khi đó anh ta mặc chiếc áo choàng thầy tu đứng cạnh và cười thầm.

Tất cả chuyện này diễn ra mấy ngày trước khi kết thúc nhiệm kỳ cầm quyền của vị tổng thống thường kỳ ở Xứ Mơ.

Theo lệ thường, dân chúng Xứ Mơ họp nhau lại để bằng cách vỗ tay thể hiện ý chí của mình, gọi ra người họ muốn thấy đứng đầu nhà nước. Thủ tục rất đơn giản. Trên quảng trường lớn nhất thủ đô người ta dựng một cái bục to cho các ứng cử viên chức tổng thống, những nhà thơ ưu tú nhất trong tất cả các nhà thơ, bước lên. Dân chúng đứng xung quanh bục, ồn ào náo nhiệt. Mỗi nhà thơ khi đến lượt mình phải bước ra trình diện dân chúng, mọi công dân của nước cộng hòa muốn phản đối hay ủng hộ ứng cử viên đó đều có thể phát biểu ý kiến. Sau đó người ta lấy ưu điểm trừ đi khuyết điểm, người nào có kết quả tốt nhất sẽ trở thành tổng thống của nước cộng hoà.

Vậy là các nhà thơ lần lượt từng người một ra mắt dân chúng.

Lẽ dĩ nhiên, không một ứng viên nào không bị dân chúng phản đối. Người thì bị bắt gặp chạy đến xem vụ xô xát trên phố. Người thì mới thức giấc đã nhảy bật ra khỏi giường - một việc không thể dung thứ được. Người thì bị coi là có tội xúi giục vội vã. Thật ra, bản thân anh ta không vội vã hấp tấp, nhưng lại xúi người khác. Thí dụ, xúi người thợ may phải may xong bộ quần áo cho mình đúng hạn. Trong số các nhà thơ lại có người ngoài tội xúi giục, còn bị tội hối lộ. Nghe đâu anh ta đã hứa cho thằng nhỏ bán báo mấy hào nếu nó mang báo chiều đến ngay tức thì. Người nữa càng tệ hơn vì mồm miệng như tép nhảy, nghe cứ tưởng người không bình thường. Thực thì lỗi của anh ta có hoàn cảnh giảm nhẹ - khuyết điểm đó là do bẩm sinh. Tóm lại là những lời buộc tội, buộc tội, buộc tội đến vô tận...

Nhưng đó chưa phải là chuyện hay nhất. Chuyện hay nhất là cứ mỗi khi một ứng viên vào chiếc ghế tổng thống bước ra trình diện dân chúng và bị thất bại thì trong đám đông lại nghe vang lên giọng một ông già đáng kính có chòm râu dày rủ xuống tận thắt lưng khiến mọi người thấy kính nể.

" Hỡi các người anh em," giọng ông già vang rền, " bây giờ thì các anh thấy ứng viên này kém xa Ghergay Estever đến mức nào, người mà các anh đã không cứu được khỏi cái chết thảm khốc. Đấy là điều thường xảy ra khi mọi người đắp tai ngoảnh mặt đối với tài năng."

" Nói đúng lắm! Đúng lắm!" Đám đông đáp lại vang dội, mỗi lần một to hơn, đồng thanh hơn.

Nhưng vị thầy tu không dừng lại đó. Khi dân chúng sẵn lòng khen ngợi một ứng viên nào đó thì gần như đến phút chót ông già đáng kính lại tung ra đòn phủ quyết của mình: phẩm chất của ứng viên này nhỏ nhặt biết bao, những mưu toan nhàn thân của anh ta thảm hại biết bao so với sự yên tĩnh đời đời của người quá cố vĩ đại.

Cứ thế cuộc bầu chọn còn lại vài người. Và rồi đến lượt người cuối cùng. Đó chính là kẻ kình địch của Ghergay Estever, người bao giờ cũng được nhắc tên cùng anh nhưng bao giờ cũng là nhắc sau. Lẽ dĩ nhiên, anh ta gần như tin chắc vào kết cục cuộc bầu chọn. Không thể có ứng viên nào tốt hơn cho chức tổng thống nữa, bởi anh ta là ứng viên cuối cùng, duy nhất.
Nhưng đến đây trên quảng trường lại vang lên giọng nói của vị thầy tu có chòm râu dài bạc trắng.

" Hỡi các người anh em yêu quý, chẳng lẽ các anh lại bầu vị tổng thống của mình là cái người mà sinh thời Ghergay Estever bao giờ cũng bị đặt thấp hơn người quá cố vĩ đại?"

Đám đông sững sờ trước chân lý vừa bất ngờ được mở ra. Sau đó họ bắt đầu xao động, rầm rì. Nhưng khi ấy vị ứng viên vào chiếc ghế tổng thống đã tự mình lên tiếng bảo vệ cho sự nghiệp chính đáng vì sự phồn vinh của nước cộng hòa.

" Đúng, tôi đã thừa nhận trước với các anh rằng tôi nhỏ bé xiết bao so với Ghergay Estever vĩ đại, chẳng khác gì đem ánh lấp lánh đồng xu so với ánh trăng. Đúng, chỉ mình Ghergay Estever là xứng đáng ngồi vào chiếc ghế tổng thống Xứ Mơ. Nhưng tôi xin mạnh dạn lưu ý các anh rằng ngoài tôi ra, không còn một ứng viên nào khác vào chức tổng thống, và điều gì sẽ xảy ra với Xứ Mơ nếu nó không có người đứng đầu nhà nước? Bởi người quá cố vĩ đại không thể sống dậy từ cát bụi được để được quyền ngồi vào vị trí đó."

" Anh thật nhầm to!" Vị thầy tu kêu lên khiến mọi người kinh ngạc. " Thế nếu Ghergay Estever chưa chết thì sao? Nếu chính vì thế mà tôi đến đây thì sao? Bây giờ tôi xin hỏi các anh: các anh có thật lòng hối hận vì đã bất công đối với anh ấy không và có sẵn sàng bầu anh ấy làm tổng thống của mình không?"

Đám đông tất nhiên là đồng thanh hô vang: " Sẵn sàng" . Có tiếng xì xào lan đi giữa mọi người về một điều kỳ diệu sắp đến.

" Các anh có muốn thấy lại anh ấy không?" Vị thầy tu hỏi.
" Muốn!" Dân chúng gầm lên. " Hãy trả anh ấy cho chúng tôi!"
" Ngay bây giờ đây!" Vị thầy tu kêu lên. Dứt lời ông cởi áo choàng, giật bỏ chòm râu và hiện ra trước đám đông dân chúng sững sờ đúng thật đứa con vĩ đại vừa được họ than khóc: Ghergay Estever.

Enyo Iogy Teshansky
Ngân Xuyên dịch từ tiếng Nga
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Mụ Sói

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Người đàn bà ấy, dáng người dong dỏng cao, thon thả, dù đã qua rồi lứa tuổi xuân thì, vẫn còn bộ ngực chắc nịch và mái tóc đen huyền óng ả. Dầu nước da tái, mét chằng như người bị sốt rét kinh niên, cặp môi đỏ hồng và đôi mắt bồ câu đen nhánh của bà ta dư sức làm xiêu hồn lạc phách cánh đàn ông.
Không hổ với biệt danh mụ Sói do dân làng gán cho, mụ yêu không biết mệt mỏi, cánh đàn bà con gái đều làm dấu thánh giá khi thoáng thấy dáng mụ đến gần, bước chân nhẹ nhàng như chó sói đang tìm mồi, đơn độc như nàng chó cái xấu nết. Mụ có thể cướp con trai hay người chồng của họ trong chớp mắt. Với đôi môi hồng ấy, với cái nhìn của đôi mắt đầy ma lực ấy, mụ đã cuốn hút biết bao nhiêu người rồi.
Đỡ cái là mụ không bao giờ đi nhà thờ để làm lễ hay xưng tội gì hết, ngay cả vào những dịp lễ lạc lớn như Phục Sinh hay Giáng Sinh. Cha Angiolino, nhà thờ Saint Mary, đã sa đọa cũng tại vì mụ.
Tội nghiệp cho cô nàng Maricchia, con gái của mụ, người đoan trang, hiền dịu, thế mà không một chàng trai nào dám ngõ lời cưới xin dù cô ta không thiếu gì áo quần đẹp đẽ lại thừa hưởng được đất địa thênh thang, không thua kém các cô khác cùng làng.
Đến một ngày, mụ Sói phải lòng một chàng thanh niên bảnh trai vừa xong quân dịch trở về. Anh ta cùng cắt cỏ khô với mụ, cắt cho gia súc ở đám ruộng của ngài Chưởng Khế. Khát tình đến nơi mụ thấy da thịt mình cháy bỏng dưới làn vải. Khi mắt mụ chạm phải mắt anh, mụ cảm thấy cổ khát khô, nóng như trời tháng Sáu ở thung lũng. Nhưng anh chàng vẫn vô tình cắm đầu cắm cổ cắt và cắt, mắt luôn luôn hướng về đám cỏ khô.
Anh hỏi:
_ Má Pina, má có chuyện gì vậy hả?
Trên cánh đồng mênh mông, ánh nắng ập xuống, chỉ có âm thanh của lũ ve sầu đáp lại. Mụ Sói chăm chỉ bó cỏ lại thành từng bó lớn, bó không biết mệt mỏi, không cần đứng thẳng lưng lần nào cho đở mõi, không buồn uống một chút nước cho đở khát, chỉ mong được đứng ngay sau Nanni trong lúc anh ta vẫn cắm cúi tay cắt, miệng hỏi:
_ Má Pina, má cần gì không?
Đến một tối, mụ Sói trả lời anh. Trong khi các chàng trai cắt cỏ khác đang lơ mơ ngủ trên sân đập cỏ, tay chân rã rời sau một ngày làm việc mệt nhọc. Trong bóng đêm, đàn chó trong làng tru lên văng vẳng. Mụ đáp:
_ Em cần mình, mình là ánh dương, là mật ngọt của đời em, em cần mình.
Nanni cười, trả lời:
_ Má ơi, con thì con cần con gái của má mà thôi.
Mụ Sói lặng lẽ đưa tay gãi đầu, bước đi. Mụ không trở lại sân đập cỏ nữa. Cho đến tháng Mười, mụ lại gặp Nanni khi anh ta nhận việc ở sát bên nhà mụ, chuyên ép những trái ô-liu. Tiếng xình xịch của máy ép dầu làm mụ thao thức suốt đêm.
Mụ ra lịnh cho con gái:
_ Mang bao ô-liu ra đây rồi đi theo tao.
Nanni đang loay hoay xúc ô-liu đổ vô cối xay, miệng luôn luôn hét con lừa cất bước.
Pina hỏi:
_ Anh nói là thích con gái của ta phải không?
Nanni hỏi lại:
_ Má cho Maricchia những gì nào?
_ Cho hết những gì cha nó để lại. Cái nhà ta đang ở cũng cho luôn. Ta chỉ cần một góc nhà bếp đủ trải một chiếc chiếu thôi.
Nanni đáp:
_ Vậy thì được, chúng tôi sẽ sống với nhau vào dịp Giáng Sinh nầy.
Nanni mình mẩy đầy bụi bặm, nhầy nhụa dầu mỡ, da bốc lên mùi ô-liu lên men, dĩ nhiên nàng Rachicchia đâu bằng lòng. Mẹ cô nắm tóc cô, nghiến răng nói:
_ Mầy phải lấy nó, không thì tao giết chết tươi ngay.
***
Mụ Sói giờ có vẻ đau yếu. Quỷ dữ đã trở thành người tu hành rồi không chừng. Dân làng không thấy mụ đi đây đó hay ngồi trước cửa giương đôi mắt ngây dại ra nữa.
Khi mụ nhìn vào gương mặt của chàng rể, đôi mắt ấy lại làm lòng anh ta hớn hở. Anh không chống cự lại được.
***
Maricchia ở nhà nuôi con. Mụ Sói thì ra đồng làm việc như đàn ông với các đàn ông khác. Mụ nhổ cỏ, cuốc đất, cho bò ăn, tỉa giây nho vào tháng giêng có gió Đông Bắc thổi hay vào tháng Tám với gió Đông Nam từ Địa Trung Hải thổi về. Với những ngọn gió ấy, ngay cả lừa cũng phải cúi đầu xuống và các chú thợ thì ngủ úp mặt vô tường.
Vào giờ giấc đặc biệt, giờ của ánh nắng trưa và hơi nóng ban chiều, thì không người đàn bà đàng hoàng nào lại thả bộ lang bang. Mụ Pina là nhân vật duy nhất có mặt ngoài đồng, mụ bước trên những khối đá nóng hừng hực, qua những gốc rạ cháy trơ còn gốc trên những cánh đồng mênh mông, mờ dần như sương khói.
Mụ Sói lay Nanni. Dậy! Dậy đi! Nanni đương thiu thiu ngủ dưới một cái mương khô ở chân bờ rào, đầu gối lên tay. Dậy đi! Có rượu ngon để giải khát nè!
Nanni trố mắt ra, nhìn mụ chòng chọc bằng cặp mắt còn vương giấc ngủ. Mụ đứng đối diện với anh, làn da xanh tái, bộ ngực căng phồng, đôi mắt đen nhánh. Anh đưa tay nhận rượu, như kẻ mất hồn.
_ Không, đàn bà đàng hoàng không lang bang vào những buổi xế trưa nóng nực như thế nầy!
Nanni vừa tức tửi nói vừa ôm đầu úp mặt vào cỏ dưới mương.
_ Đi! Đi đi! đừng trở lại đây nữa!
Và Mụ Sói đi ra, vừa cột lại mái tóc, vừa nhìn xuống đôi chân với cặp mắt đen huyền, mụ đi qua những gốc rạ nóng hổi.
Nhưng mụ đã trở lại sân đập cỏ, trở lại nhiều lần, và Nanni không cưỡng lại được. Những khi mụ ta đến trễ, ở vào khoảng xế trưa nóng nực đó, thì anh ta lại tất ta tất tưởi đi tới tận đằng đầu đường vắng đứng đợi mụ, mồ hôi trán tươm ra.
Nhưng rồi mỗi lần anh ta lại gảy đầu, bức tóc, lập đi lập lại.
_ Đi. Đi đi! Đừng trở lại đây nữa!
***
Maricchia khóc vùi suốt ngày suốt đêm. Mỗi lần thấy mẹ từ ruộng về, nét mặt nhợt nhạt, nín lặng, cô nhìn mẹ soi mói, mắt đỏ ngầu, đầy nước mắt, giống hệt một con sói con. Cô lầu bầu:
_ Đồi bại!. Đồ mẹ đồi bại!
_ Coi chừng cái miệng mầy đó!
_ Vụng trộm! Đồ vụng trộm!
_ Câm miệng!
_ Tôi sẽ đi thưa cảnh sát. Tôi đi thưa!
_ Thưa đi!
Maricchia đi thưa thật, tay bồng con, không khóc và sợ hãi nữa vì bây giờ cô đã thấy yêu người chồng đã được áp đặt cho mình, dù người ấy mình mẫy dính đầy bụi bặm, dầu mỡ, tẩm cả mùi ô-liu đang lên men.
Viên cảnh sát đến gặp Nanni, nói tội anh ta có thể bị tống giam hay treo cổ. Nanni khóc rấm rức, vò đầu bứt tóc nhưng tuyệt nhiên không chối điều gì và cũng không xin tha thứ. Anh than van:
_ Tôi bị cám dỗ!, sự cám dỗ của quỷ cái.
Anh quỳ sụp xuống chân viên cảnh sát, xin được đem về trại giam.
_ Ông cảnh sát ơi, làm ơn đưa tôi ra khỏi địa ngục nầy! Đem tôi tống giam hay treo cổ cũng được. Đừng để tôi nhìn thấy mụ ấy nữa, đừng bao giờ nữa!
Mụ Sói chận ngang: Không! Khi tôi cho hắn cái nhà làm của hồi môn, tôi đã giữ lại một góc bếp cho tôi. Vậy nhà là nhà của tôi, tôi không đi đâu hết!
***
Sau đó chẳng bao lâu, Nanni bị lừa đá vô ngực coi như sắp chết nhưng cha xứ không đến làm lễ ban phước trừ phi mụ Sói rời khỏi nhà. Mụ Sói đã đi và Nanni cũng chuẩn bị đi. Ngoan đạo thì phải vậy thôi. Anh ta xưng tội và nhận lễ ban thánh thể với dấu hiệu ăn năn rõ rệt, khiến láng giềng và những người hiếu kỳ phải ứa nước mắt, thương cho người bịnh. Và có lẽ hôm đó Nanni chết đi thì may cho anh. Sau khi anh bình phục thì con quỷ cái lại đến cám dỗ.
_ Đi! Đi đi! Làm ơn để tôi yên!
Nanni năn nỉ Mụ Sói,
_ Tử thần sắp rước tôi đi rồi. Miricchia đang tuyệt vọng. Đầy trời thiên hạ đều biết chuyện nầy rồi. Không bao giờ gặp nhau nữa là điều hay cho bà lẫn cho tôi.
Anh muốn móc mắt mình quăng đi để khỏi nhìn gặp đôi mắt Mụ Sói. Đôi mắt ấy khi nhìn đăm đăm vào mắt anh thì anh không còn làm chủ được linh hồn và thể xác mình nữa. Anh tuyệt vọng, không biết làm sao để thoát khỏi bùa mê. Anh đi nhà thờ cầu nguyện cho linh hồn mình nơi luyện ngục. Anh nhờ cha xứ và viên cảnh sát cứu giúp.
Vào dịp lễ Phục Sinh, anh đi xin tội. Trước sự chứng kiến của các con chiên, anh đã bò dài qua sân nhà thờ, anh liếm sáu nắm sỏi để hành xác tạ lỗi.
Khi Mụ Sói đến quyến rũ anh, anh nói thẳng:
_ Nghe đây nè, đừng bao giờ trở lại sân đập cỏ nữa nhe. Theo đuổi tôi nữa, tôi sẽ giết bà đó. Chắc chắn như vậy, chắc như có Chúa trên Trời.
_ Giết em!, Mụ Sói trả lời, Em không sợ đâu, đời em còn có nghĩa gì đâu nếu thiếu anh.
Từ vườn nhà, anh thấy dáng mụ từ xa, đương băng qua cánh đồng bắp xanh lơ. Anh ngưng tay cuốc, tới một bụi cây rút ra một cái rìu. Mụ Sói thấy Nanni tiến về phía mình, nước da anh tái mét, đôi mắt điên dại, cái rìu lấp loáng ánh thép dưới tia nắng. Mụ không bước lui nửa bước, cũng không hạ thấp tia nhìn, vẫn thản nhiên đi tới, chùm hoa đỏ trong tay, mắt nhìn thu cả hồn phách người ta.
_ Cho mầy xuống địa ngục! Nanni quát lên nghẹn ngào.
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Ánh Sáng

lamtruyen.com
Truyện ngắn
- Phở có nóng không bác?
- Nóng.
- Vậy bác bán cho tôi ba xu.
Cậu bé đặt sáu đồng trinh lên mặt gánh, lặng yên đứng nhìn người bán phở nhấc môi bánh nóng hôi hôi đặt vào bát. Hơi nóng trong nồi nước dùng bay tỏa ra từng đám trắng, gió chiều thổi tạt về đầu phố.
Bằng đứng phía cuối gió, đương thẫn thờ cúi xuống nhìn cỏ, bỗng giật mình ngước mắt lên. Vô tình ngọn gió đã đột ngột đem theo mùi thơm ngào ngạt làm giác quan chàng rung động. Bằng quen tay thò vào túi, và sực nhớ rằng đồng hào cuối cùng chàng đã tiêu hết từ chiều hôm trước, cả gia tài chỉ còn một đồng trinh.
Lại một làn gió thơm đưa tới, nhẹ nhàng vờn mớ tóc rối của Bằng. Như đột nhiên nghĩ đến một việc cần, Bằng hấp tấp rảo bước đi thật nhanh. Qua gánh phở, chàng ngoảnh mặt chăm chú nhìn một bông hồng lách qua giậu sắt, rung rinh trước gió, hình như không nghe thấy tiếng hàng phở chào:
- Mời thầy mua cho một bát.
Thực thì Bằng vẫn nghe rõ lắm. Nhưng chàng không muốn lên tiếng từ chối trong khi lòng chàng rạo rực nôn naọ Chàng đóị Chàng đói lắm: từ sáng đến giờ, chưa có một hột cơm nào trong bụng, mà cứ thế lang thang hết phố này sang phố khác.
Bằng lang thang đi tìm việc làm. Đã hai tháng nay, từ hôm Sở dầu thải hơn sáu chục người làm công, không có ngày nào là Bằng không đi như vậỵ Chàng chỉ biết có một nghề đánh máy chữ và tính sổ, mặc dầu cha mẹ chàng xưa kia chuyên nghề làm ruộng. Đáng lẽ như người khác, Bằng bây giờ đã vác cày ra đồng, khó nhọc kiếm lấy miếng ăn dưới ánh nắng thiêu, trong những ruộng lầỵ Nhưng thuở nhỏ chàng chăm chỉ và thông minh hơn trẻ khác, nên cha mẹ chàng cố nuôi chàng ăn học, có mấy sào ruộng bán dần đi hết. Bằng vì thế trở nên một thầy ký. Công việc có nhẹ nhàng nhưng cảnh người làm công, cảnh bức bách. Có điều mỗi lúc về quê, họ hàng đối với chàng đều có vẻ trọng vọng tôn kính. Còn chàng chắc cũng an phận, nếu kinh tế không khủng hoảng. Nhưng đã gần một năm nay, sở nào cũng nghe thấy nói đến việc thải người làm. Trong Sở dầu, anh em thường thì thầm bàn đến một cách sợ sệt. Duy ai nấy cũng thầm tưởng, thầm mong rằng có thải cũng không đến mình. Bỗng một hôm, đương lúc mọi người cặm cụi làm việc, người loong toong chạy vào:
- Mời các ông lên quan Đốc gọi.
Trong phòng giấy rộng rãi, sang trọng, ông Đốc đứng nghiêm trang trong bộ áo là nếp thẳng thắn. Ông cám ơn mọi người đã làm hết phận sự, rồi ông tỏ nỗi lòng ông băn khoăn, khổ sở mấy hôm vừa qua:
- Các ông ạ, sự khủng hoảng bắt buộc chúng tôi phải rời các ông, tôi lấy làm tiếc vô hạn. Tôi mong sẽ có ngày kia, kinh tế vững chãi và các ông sẽ lại về làm ở đâỵ
Nói xong, ông Đốc xem vừa ý lắm, thắt lại cái cà vạt, vuốt lại mái tóc mượt, vẻ mặt sung sướng khoan khoái, ông bước lên xe ô tô hòm giục tài xế đưa đến một khách sạn sang để dự bữa tiệc chiều.
Trong khi ấy, các ông Ký bị thải ngơ ngác nhìn nhau, rồi buồn bã người nào trở về nhà nấy với mâm cơm cà và rau muống luộc.
Ngày theo ngày, những ngày dài dằng dặc, những ngày ngồi rỗi với một tâm hồn chán nản, với cuộc tương lai mập mờ bất trắc. Mâm cơm cà và rau muống dần dần cũng không có nữạ Bằng đã tới cái cảnh ngao ngán ấỵ Về quê làm nghề nông thì không còn một thửa ruộng - Bằng cũng tự biết không đủ sức cầy sâu, cuốc bẫm - và làm thợ thì không biết nghề gì, Bằng chỉ còn mong tìm được một chân bàn giấỵ Chàng tiêu dần hết cả tiền dành dụm, mà không có chút hy vọng nào.
Ngày hôm nay, chàng không còn một đồng xu dính túị Đã vậy, chủ nhà, bà Cai Đá, lại nhất định đòi tiền thuê nhà, và sau một hồi thuyết lý mỉa mai, bà ta hẹn lại cho Bằng đến sáng mai phải trả, nếu không thì đứng trách.
- Đừng trách!
Bằng nhếch mép cười một cách chua chát, tâm trí đầy rẫy nỗi uất ức, tức giận. Chàng ngẫm nghĩ:
- Dốt nát ngu xuẩn như mụ Cai Đá thì chỉ việc ngồi duỗi mà sống một cách sung sướng đầy đủ, còn mình muốn làm vất vả cả ngày để nuôi thân mà cũng không được. Ông trời bất công thực.
Bằng ngửa mặt nhìn lên không trung. Trời chiều trong xanh như ngọc thạch. Mấy đám mây hồng nhẹ nhàng trôị Bằng cảm thấy rõ sự vô lý của lòng oán hận một cảnh vật vô tình, thản nhiên...
Bỗng chàng giật mình. Một tiếng còi gắt gỏng, một câu nói bẳn và một cái xe ô tô vụt qua trước mặt chàng. Chỉ chậm một giây nữa thì Bằng bị ô tô cán phảị Thì ra chàng bước xuống đường nhựa lúc nào không biết.
Sợ hãi, Bằng lùi lên bờ hè, mới hay mình ở trước vườn hoa nha Đốc lý. Mệt nhọc, chàng ném mình xuống một cái ghế dài gần đấy, ôn lại cái nạn vừa xảy ra:
- Thật là chết hụt!
Ngẫm nghĩ, chàng tắc lưỡi:
- Chà! Chết mà lại haỵ.. Sống khổ sở thế này thì cũng chẳng nên sống làm gì.
Thở dài, chàng xua đuổi ý nghĩ chán nản nhìn ra chung quanh. Trời đã nhá nhem tối, những bông cúc trắng rung rinh trong ánh sáng mờ mờ khiến Bằng nhớ đến cảnh xa hoa của tết năm nào.
Có tiếng nói sẽ như đáp lại ý nghĩ của Bằng:
- Lạy thầy dón tay làm phúc.
Trông người ăn mày hốc hác, rách rưới, đứng chĩa tay trước mặt,
Bằng nở một nụ cười buồn tênh, lắc đầu ra hiệu rằng mình không có tiền. Người ăn mày vẫn nhẫn nhục đứng lải nhải xin. Bằng đứng dậy móc túi lấy đồng trinh còn lại ném cho, rồi vừa đi vừa nói một mình.
- Thế là hết.
Chàng lần theo những phố đông đúc, trong lòng thấy vui vui vì đã cứu một người nghèo khó hơn mình. Thấy đói và mệt, chàng dừng lại nhìn một cửa hàng bán vàng bạc, tò mò ngắm nghía những chiếc nhẫn dát kim cương lóng lánh bên cạnh mấy đôi xuyến huyền nạm vàng.
- Nếu ta có một chiếc xuyến kia nhỉ?
Bỗng một ý nghĩ bất chính nẩy ra trong trí Bằng. Như muốn tránh sự cám dỗ, chàng ngoảnh nhìn sang một cửa hàng ở dãy bên kia phố. Trong khung kính, mấy miếng xúc xích đương lơ lửng trên vài chiếc bánh tây ngon lành, và những chiếc bánh sữa đương phơi màu vàng ngọt dưới ánh điện sáng trưng. Bằng rùng mình, tưởng tượng ra một bữa tiệc long trọng, những chiếc bánh đặt trong giỏ mây bên cạnh những cốc pha lê trắng muốt, những đĩa thịt thơm thọ Bằng rùng mình, vì ý nghĩ chiếm đoạt tiền của người khác đã hình thành trong óc chàng và xui giục chàng thò tay vào lấy trộm chiếc xuyến.
- Họ có mất chiếc xuyến cũng không sao, mà ta lại được một bữa cơm ngon.
Bằng thò đầu vào cửa hàng bỏ vắng, bỗng chàng nhìn thấy bóng trong gương, mặt mày len lét, bơ phờ. Chàng kêu rú lên một tiếng rồi cắm cổ chạy như tội nhân đi trốn.
Về đến nhà, Bằng mới hoàn hồn, chàng nằm vật xuống phản, thở hồng hộc, như vừa mới thoát khỏi một cái nạn to: thiếu chút nữa, chàng đã thành một thắng ăn cắp. Nhưng nghĩ đến cách sống ngày mai, Bằng càng bối rốị Biết làm gì mà nuôi được thân bây giờ, ngoài việc bất chính? Hay là đi hành khất? Bằng nhớ lại người ăn mày ở vườn hoa Đốc lý, nhớ lại cái nạn ô tô suýt nữa xảy rạ Chàng than thở:
- Nó chẳng đè chết đi cho rảnh chuyện.
Một tư tưởng vụt ra trong trí, khiến chàng thẫn thờ lẩm nhẩm:
- Âu là...
Rồi Bằng ôm mặt nức nở khóc.
* * *
Mặt trời đã lên caọ ánh nắng êm đềm xiên qua cửa sổ. Bà Cai Đá trỗi dậy, với lấy ống nhổ, gọi con sen:
- Đỏ, mày chạy xuống đòi thầy Bằng tiền nhà đi.
Rồi bà lẩm bẩm:
- Lần này mà không trả thì bà bảo chọ Đã hai tháng của người ta rồi, mà cứ chây ra, người đâu mà trơ đến thế!
Con sen vừa mới bước xuống cầu thang, bà Cai Đá khoác vội cái áo dài, chạy liền theo, nét mặt hầm hầm.
Đến cửa phòng Bằng ở, bỗng bà đứng dừng lại, ngạc nhiên. Bà trông thấy Bằng ngồi trên thành cửa sổ tay gõ dịp xuống tường, miệng hát nghêu ngaọ..
- Thế nào, thầy trả tiền nhà tôi đi chứ?
Như không nghe thấy câu hỏi của bà Cai, Bằng cúi hẳn người ra ngoài, nhìn chòm lá long não phấp phới rung rinh trước gió, tươi cười như một cô con gái nhí nhảnh. Bằng không hiểu sao mình vẫn còn sống mà ra đây nhìn ánh sáng và chàng lấy làm lạ rằng sao lúc nãy chàng lại cảm thấy một cách đằm thắm hơn mọi khi, cái vui, cái đẹp của đời.


Hoàng Đạo
(Rút từ tập truyện ngắn Tiếng đàn, Đời Nay, Hà Nội, 1941)
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Con cá song

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Tàu chúng tôi sau khi đưa chiếc tàu buôn Thụy Điển ra khỏi cửa bể thì neo lại. Là vì đến khuya chúng tôi còn phải đón một chiếc tàu Liên Xô vào cảng. Lúc tiếng chuông trên tàu đánh lên báo hiệu neo đã thả xong thì vừa đúng tám giờ tối. Tôi nhận gác phiên đầu. Tôi đem treo đèn mũi và đèn lái rồi ra đứng ngoài boong. Tất cả thủy thủ đều tranh thủ đi ngủ lấy một giấc. Chỉ còn lại có tôi và người thuyền phó. Người thuyền phó ấy tức là anh Năm Trường, vốn đồng hương với tôi. Bóng tối đã buông xuống mặt bể từ lâu. Trước mặt tôi ngọn hải đăng Long Châu vẫn đều đều chớp lóe. Quanh chỗ tàu đậu và dọc về phía hòn Xám Buối Chẩu hiện ra nhan nhản những cánh buồm thuyền lưới. Mỗi chiếc thuyền lưới mang một ánh đèn nhỏ, lặng lẽ lướt đi lướt lại trên mặt biển. Anh Năm Trường bàn với người cấp dưỡng trên tàu là ông Tư Già, định gọi thuyền mua cá nấu cháo. Ông Tư cấp dưỡng đồng ý. Tôi với anh Năm Trường đi ra lái tìm gọi một chiếc thuyền mua cá nấu cháo. Ông Tư cấp dưỡng đồng ý. Tôi với anh Năm Trường đi ra lái tìm gọi một chiếc thuyền ở gần nhất. Anh Năm bắt tay lên miệng gọi lớn. Có tiếng người têrn thuyền ơi ới đáp lại. Nhưng rồi không rõ vì sao, chẳng thấy một thuyền nào cặp bến. May sao giữa lúc ấy, có một chiếc hướng mũi chèo về tàu. Chiếc thuyền đó đi rất chậm, đôi lúc như vùng vằng định trở mũi, mãi sau mới cặp vào mạn tàu. Tôi cầm chiếc đèn bão giơ lên. Trước mũi thuyền, một anh con trai chạy ra bám vịn thành tàu. Đó là một thanh niên có đôi vai rất rộng, bộ ngực anh ta nở căng cả áo và mái tóc anh ta đẫm nước. Sau lái thuyền, có một ông lão bịt khăn đầu rìu. Dưới chân ông lão là cái bếp lửa mới nhóm lên, cháy vờn vờn.
Anh Năm Trường vui vẻ hỏi vọng xuống:
- Có con cá nào ngon không anh bạn? Cho chúng tôi mua một con!
Anh con trai không đáp, hất mớ tóc trên đầu, đoạn cúi dỡ sạp mũi. Dưới khoang thuyền, tiếng cá quẫy lạch bạch. Những cái sống lưng cá to đen và những vẩy cá như bạc hiện ra lấp loáng trước mắt tôi. Nhưng anh trai trẻ nọ trông lầm lì quá. Đôi bàn tay anh ta quờ quạng dưới khoang chẳng mấy là nhanh nhẹn, xem chiều như miễn cưỡng nữa. Sau cùng anh ta nhấc lên được một con cá. Song thực tình chẳng phải là con cá chúng tôi đang ao ước tí nào. Một con cá nhụ coi như mới chết, mình không được dịu. Tôi kêu lên:
- Con cá ấy bé quá, mà nó lại chết!
- Anh chọn cho tôi một con đủ trên mười người ăn. Chúng tôi cần cá to và ngon để nấu một nồi cháo! Anh Năm Trường nói vào.
Anh con trai đáp nho nhỏ:
- Không còn con nào to đâu, cũng thế cả thôi!
Giọng nói của anh ta rõ là giọng nói của một người bán mà không thiết bán. Tôi lấy làm lạ quá. Rõ ràng vừa rồi dưới khoang thuyền có nhiều con cá trườn sống lưng rất to, đâu phải tôi trông lầm. Tôi định nói, nhưng chưa kịp thốt lời thì sau lái ông lão đã nói lớn:
- Có, còn mấy con song to các bác ạ!
Vừa nói lão vừa bò tuông ra mũi. Tôi nhìn thấy lão rõ hơn. Đó là một ông lão khoảng trên năm mươi. Đầu lão như húi trọc, tóc lún phún trổ ra ngoạm lấy mang tai. Dưới gáy lão in dấu một vết sẹo to như đường dao chém. Người lão coi gầy nhưng cứng cáp. Chiếc áo nâu ngắn tay đang mặc không gài cúc để lộ ra một chiếc thánh giá bằng đồng nhỏ buộc lủng lẳng trước ngực. Lão nói như thét với anh con trai:
- Chậc... Bắt cái song ấy. Gớm, sao mày lại dấm dớ thế, hử?
Anh con chưa kịp cúi xuống khoang thì lão huých luôn cùi tay vào người anh ta và giật lấy chiếc vợt. Nhanh như cắt, lão đã lùa ngay được một con cá vào vợt và nhấc lên. Tôi thấy một con cá song rất to đè trĩu đáy vợt. Thân con cá màu nâu sẫm điểm vằn đen, mang nó thở đều đặn và nơi mũi phì phò những bong bóng nước nhỏ. Nằm trong lưới vợt mà nó xòe cái đuôi ra to như một bàn tay giang rộng. Thực là một con cá đẹp song đẹp đẽ. Anh Năm Trường trông thấy cũng ưng ý ngay. Nhưng anh ta đưa mắt nhìn anh con trai nọ bảo:
- Anh kia có cá to mà sao không muốn bán thế, bộ anh cho chúng tôi không có tiền à? Cán bộ công nhân chúng tôi quả thực không giàu, nhưng thừa sức mua mấy con cá của anh mà.
Người thanh niên nọ ngước mắt lên, lặng lẽ nhìn người thuyền phó chúng tôi. Có lẽ anh ta định nói gì, nhưng ông lão đã quắc mắt nhìn. Cái tia sáng đôi mắt ông lão đã chặn lời anh ta. Bấy giờ thật bụng tôi cũng chẳng thương hại cho anh ta một chút nào. Cái sự anh ta làm trở ngại việc mua bán của chúng tôi thật là sai quấy hẳn đi rồi. Thì anh ta còn định nói gì nữa kia chứ!
Ông lão hai tay chấp cái cán vợt nâng lên. Bộ điệu như vừa là để cho chúng tôi trông thấy tỏ rõ con cá, lại như vừa có vẻ xin lỗi. Anh con trai bấy giờ trở nên một người vô phận sự. Anh ta bò ra sau lái, có vẻ như vẫn còn hậm hực điều gì. Anh Năm Trường hỏi ông lão giá cá bao nhiêu một cân. Ông lão đáp mỗi cân giá một nghìn hai. Chúng tôi thuận mua con cá ấy với giá sáu nghìn hai trăm đồng. Ông lão đưa vợt lên. Tôi đón lấy, lật vợt hất con cá xuống boong tàu. Người đánh cá già sau khi nhận đủ tiền thì xin buộc thuyền vào mạn tàu để nghỉ nấu cơm và đợi con nước khuya.
Trên tàu, tiếng dao thớt của ông Tư cấp dưỡng đã khua lên. Tôi vào bếp bỏ thêm than vào lò chuẩn bị bắc nước. Anh Năm Trường ngồi với tôi một lúc, trước khi xuống cabin ngủ, anh dặn tôi:
- Hễ thấy tàu đến thì đánh chuông, chừng nào cháo chín kêu tụi tôi dậy. Chốc nữa thế nào anh cũng phải uống với tôi một cốc rượu. Từ lúc anh xuống đây tôi chưa được thấy anh uống rượu bây giờ!
Tôi cười không đáp, vặn cây đèn cho cháy sáng hơn rồi ra ngoài, ngồi im, ngửa mặt nhìn trời. Đêm tháng mười, bầu trời lấp lánh các vì sao. Những ngôi sao có tên gọi cùng với những ngôi sao khác chiếu lên nền trời thứ ánh sáng xanh dịu. Gió biển từng cơn từ khơi thổi vào khiến cho tôi mát tỉnh người. Đêm sang thu ở cửa biển thế này thường gợi cho tôi nhiều mơ ước và cảm hứng muốn viết. Bên mạn tàu, ông lão và anh con trai đang hạ buồm xuống. Ông lão ghì sợi dây luộc lòng và anh con trai thì kéo sợi lèo trôn. Trên thuyền, ánh lửa đã nhóm cháy sáng. Tôi đưa mắt nhìn qua ánh lửa chập chờn soi rọi, thấy trong mui có một bức tượng nhỏ Đức Bà Maria và Chúa Hài Đồng tạc bằng đá xám, hơi bé và thô, đặt trên một cô con gái ngồi cạnh bếp lửa. Một cô gái ở biển, có đôi cườm tay đầy đặn, đôi gò má bầu bĩnh rám nắng. Mái tóc cô cũng đẫm nước như anh con trai. Cô ngồi bó gối vào lòng, nhè nhẹ đưa tay đun những que củi đang cháy kêu lắc rắc. Anh con trai sau khi xếp buồm trên mui xong thì đến ngồi bên. Anh ta lặng lẽ tựa lưng mình vào lưng người con gái và duỗi hai chân ra. Tôi đoán chừng họ là hai vợ chồng. Anh con trai ngồi im như thế rất lâu. Tôi nhận thấy cái khuôn mặt đó lầm lì thế nào. Dường như anh ta có sự ấm ức trong lòng mà chưa bộc ra được. Người con gái đưa mắt liếc nhìn, đoạn với tay lên mui lấy một chiếc khăn nâu vắt lên vai anh ta, khẽ bảo:
- Lau đi cho khô tóc.
Anh chồng trẻ vẫn lặng thinh không đáp. Thình lình anh ta hất chiếc khăn sang một bên và nói chõ vào khoang:
- Bố làm thế thì thật không còn mặt mũi nào!
Trong khoang có tiếng dặng hắng của ông lão. Rồi tiếng ông lão nói ra:
Mày bảo sao?... Hừ... tao làm cho tao ăn cả đấy!
- Không phải chuyện bố ăn hay tôi ăn. Lúc nãy tôi đã bảo bố đừng bán, thế mà bố chẳng nghe. Bây giờ đã trót vậy, tốt hơn hết là đem số tiền bán con cá song ấy hoàn lại cho tập đoàn...
Tôi giật nảy mình. Câu đó làm tôi hiểu ra. Tôi có ngờ đâu con cá song chúng tôi vừa mua là của một tập đoàn phường lưới. Thật chẳng dè câu chuyện bán cá đơn giản vừa rồi lại ẩn náu cái uẩn khúc như vậy. Tiếng ông lão rít lên:
- Mày nói gì thế, thằng khốn. Không đời nào thằng già này chịu thế. Mày còn dại lắm con ạ... Không, không...
Thấy mình nói khí to, sợ trên tàu nghe thấy, lão liền hạ thấp giọng. Nhưng tôi vẫn nghe được tiếng lão ta nói tiếp:
- Ai biết được. Chẳng có thuyền nào trông thấy. Đêm hôm tối tăm thế này...
Anh con trai cười:
- Hừ... Hằng ngày bố vẫn cầu nguyện "Chúa ở khắp mọi nơi... thông biết mọi sự" đấy thôi!
Ông lão lặng im.
Anh con trai nói thêm:
- Thế là bố đã không giữ điều răn thứ bảy của Chúa!
Anh con trai mới nói xong thì người con gái quay mặt lại. Cô ta lấy tay cấu khẽ chồng, cau mày.
- Mày dạy lại tao đấy à? Phải, kinh thánh có răn là không được tham của người. Chúa dạy thế. Nhưng đó là Chúa dạy chớ lấy của người khác. Mà tao, tao chẳng có lấy của ai sốt. Của tao làm ra, tao có quyền bán đi. Như vậy là tao không mảy may phạm tội tới điều răn của Chúa.
Ông lão nói với giọng vừa tức giận vừa hả hê. Nói xong lão ngồi nhổm dậy. Kế đó tôi thấy lão mò mẫm tìm vật gì. Lão với tay ra sau lái nói: "Đốt tao cái đóm!" Cô con dâu rút một cọng đóm đốt, trao cho lão. Ông lão hút thuốc. ánh sáng que đóm bùng lên. Tôi nhìn thấy cái ống điếu của lão hút thật to và dài. Loại điếu của người miền núi, tôi chỉ thấy trong một dịp lên Hoàng Su Phì. Tiếng điếu rít lên ồng ộc. Anh con trai lại nói:
- Ăn cắp của một người đã có tội. Ăn cắp của nhiều người càng có tội hơn. Của tập đoàn là của nhiều người. Chúng ta lấy phần của một trăm hai mươi thuyền... Thế mà bố bảo là không có lỗi.
Ông lão bị con dồn vào chỗ thất thế, không lựa lời gì để nói được nữa. Lão tựa lưng vào vách thuyền. Hồi sao lão cất lên một tiếng thở dài não ruột. Trong ánh sáng chập choạng, bóng lão nhổm dậy. Hai tay lão quờ quạng về phía trước nắm chặt lấy then thuyền. Lão nói, giọng không quát tháo như lúc nãy, mà đay nghiến và kể lể:
- Trước kia... mày có biết đâu. Tao đối với bố tao không có như mày đối với tao bây giờ. Tao sống với bố qua những ngày cơ cực không sao nói xiết. Biển cả mênh mông này, chỗ nào mà chẳng có pha mồ hôi của tao, của bố. Chẳng phải đổ mồ hôi không đâu, mà còn đổ cả máu nữa, con ạ. Năm đó mày hãy còn bé, vả lại ở trên bãi mày không thể biết được một trận bão chưa từng thấy. Tao với bố đã chịu qua một đêm một ngày giữa biển. Và không sao bẻ lái như ý muốn. Cuối cùng thuyền rập vào bờ. Không phải là bờ cát đâu, mà rập vào đá. Bố bị chết chuyến ấy, người bị rập giữa đá với thuyền. Còn tao, tao kịp nhảy ra, nhưng vỡ đầu và ngất lịm đi. Vết sẹo trên đầu này của tao có phải là do tao đi ăn cắp, ăn trộm bị người ta chém cho đâu. Không, đó là vì tao vật lộn với miếng ăn để nuôi mày đấy. Bu mày cũng thế, suốt đời cực khổ chẳng ngước mặt lên được. Đời tao với bu mày có biết ăn chơi đàn đúm như chúng mày ngày nay đâu. Bu mày chết, mày làm gì biết được cái cảnh chết đau đớn ấy. Chết vì ăn phải nhiều cá quá. Dạo đó người ở Cát Hải - Gia Luận không có gạo ăn, cá mang lên chả đổi được gạo. Tao cõng xác bu mày đi chôn. Sức tao yếu quá, đến nỗi không thể lê chân đi tìm được chỗ nào cao ráo, đành phải chôn bu mày ở đầu bãi. Cái bãi mà bây giờ chiều chiều bọn bay vẫn xi nê xi niết đấy... Chuyện đó chắc mày đã nghe bà con nói. Tao hình như chưa kể với mày một lần nào. Là vì tao không muốn nhắc lại làm gì. Nhắc lại, mày nghe có thể có ích cho mày, nhưng tao thì lại không chịu nổi. Sau khi bu mày chết, tao sống một mình trơ trọi. Nhiều đêm chợt nghĩ tới chuyện cũ thì không sao ngủ được, nước mắt cứ trào ra. Mặt khác lại không yên thân với chủ thuyền. Chiếc thuyền rập nát trong trận bão biển năm đó nào có phải của tao đâu, của thằng Mã Chiếm đấy chứ. Thế là phải làm trả nợ thuyền suốt hai năm đấy con ạ. Nào ngờ vẫn không chết, sống qua khỏi cái năm đói ghê gớm nhất, rồi lần lần tách ra khỏi sợi dây thòng lọng của thằng Mã Chiếm tròng trên cổ tao suốt mười chín năm trời. Lần hồi, tao dành dụm sắm được thuyền cùng đi lưới chung với bà con. Cho đến nay tao năm mươi nhăm tuổi, mới nhẹ thở được một tí. Nếu Chúa không thương xót thì còn gì thân tao, và mày cũng không được khôn lớn như ngày nay. Thế mà ngày nay chính mày lại làm cho tao ngạt thở. Lúc nãy mày lảm nhảm những gì thế, hở?... Chịu thô, mày đối với tao thực không bằng người dưng kẻ chợ. Cầu Chúa tha tội cho mày...
Trên boong tàu, tôi cúi nhìn xuống. Dưới ánh sao đêm mờ nhạt, ông lão quỳ một gối chân, đang giơ tay lên ngực lên chán làm dấu. Giữa lúc ấy tôi nghe vẳng tới một tiếng nức nở. Đó là tiếng khóc của người con dâu. Cô ta ngừng cời than, úp hai bàn tay vào mặt, đôi vai khẽ rung lên. Anh con trai không động đậy. Rõ là anh ta đang đứng trước một cuộc phản công hết sức mãnh liệt. Lời lẽ nửa đay nghiến nửa thở than của người bố già ấy đã đưa anh vào một tình thế khó tháo gỡ. Người bố từ chỗ trước kia bị thất thế, giờ hóa ra chủ động. Rõ ràng ông ta đang đưa con mình vào một chỗ đã định, bắt người cont rai trẻ dừng lại ở đó mà suy nghĩ, mà đắn đo để rồi uể oải không cất chân bước lên được nữa.
Tôi miết chặt hai ngón chân cái xuống sàn tàu, dán mắt lo lắng nhìn về phía anh bạn trẻ của tôi. Lưng anh ta vẫn dựa vào vai vợ nhưng hai chân từ từ co lại. Anh ngồi im như một bức tượng. Chỉ có đôi lông mày hơi nhíu và đôi mắt mở trừng trừng, long lanh đọng ánh than lửa từ bếp hắt lên. Tôi không rõ anh ta đang nghĩ gì. Điều chắc chắn là tâm trạng anh ta không được bình thường. Tôi chợt thấy anh ta thúc nhẹ khủy tay vào sườn vợ, chừng như bảo vợ nín đi, đừng có khóc nữa.
Rất lâu sau, dưới thuyền vẫn im lìm. Tiếng sóng đều đều vỗ ộp oạt vào mạn thuyền và tàu, càng làm cho sự yên tĩnh lộ rõ hơn. Anh con trai từ lúc nghe gợi nhắc về cái quá khứ cũ của bố mẹ, vẫn cứ ngồi im phăng phắc, khiến tôi sốt ruột. Nhưng tôi vẫn kiên trì chờ đợi và hy vọng. Bấy giờ tôi thấy hết sức cần đòi hỏi ở anh con trai ấy một câu nói. Cái câu nói của anh và của chính lòng tôi đang mong đợi. Cốt sao anh ta đừng tạo một sự căng thẳng, đừng làm cho người vợ yếu lòng kia phải cất tiếng khóc một lần nữa. Thời gian trôi qua rất chậm và nặng nề. Vẫn không thấy anh con trai hé miệng. Tôi sắp sửa nản lòng, thì người con trai ấy đã lên tiếng.
- Nỗi khổ của bố ngày xưa, tôi rõ lắm... Bố ạ, khi bố nhớ lại những cảnh ấy thì bố có nghĩ là tại sao bây giờ bố được dễ thở không? Chẳng nhẽ bố lại không nhớ vì thế nào, nhờ ai mà thằng Mã Chiếm nó chịu buông cái sợi dây thòng lọng của nó ra hay sao? Bố cứ nghĩ xem...
Tôi thở phào nhẹ cả người. Anh con trai đã nói lên cái câu nó mà chỉ có trong lứa tuổi anh mới nói được. Lời nói khiến ông lão im đi một chập rất lâu không đáp. Tôi bỗng nghe từ dưới cabin có tiếng chân người đi lên. Thì ra anh Năm Trường. Anh đến bên tôi. Khi anh sắp mở miệng định nói thì tôi đã kịp giơ tay chặn lại. Tôi kéo anh đi về phía mũi. Anh Năm Trường lo lắng hỏi:
- Cái gì thế, anh?
Tôi nói: "- Chuyện gác thì không có gì xảy ra, nhưng có chuyện này... " Rồi tôi thuật lại cho anh nghe câu chuyện giữa bố con ông lão thuyền cá. Cuối cùng tôi chép miệng:
- Bọn mình cũng sơ suất, lẽ ra phải hỏi cẩn thận rồi hãy mua.
- Không hề gì. Vả lại mình có biết đâu. Giờ cá đã sắp ăn rồi không thể trả lại được!
Nói đoạn anh Năm Trường bảo tôi cùng đi với anh lại chỗ chiếc thuyền buộc. Đến nơi tôi với anh im lặng ngồi nép xuống. Dưới thuyền, ông lão vừa hút xong một hơi thuốc lào nữa rồi ngả lưng nằm xuống. Đằng lái anh con trai đã xây lưng lại. Anh ta đưa tay vuốt vuốt làn tóc ướt của vợ. Vợ anh đã thôi khóc, ngồi yên cho chồng mân mó tóc mình. Một lúc sau chị rũ nhẹ mái tóc, lúi húi tìm đèn đốt lên. Chị lấy đũa cả giở vung xới cơm. Mùi cơm nếp bốc hơi thơm ngát đến tận mũi chúng tôi. Chị ta bày ra trên sạp lái một chiếc mâm gỗ, trên có đặt ba cái bát và một con cá nhụ nước. Chị rướn người vào khoang nói:
- Bố ra xơi cơm!
- Cứ ăn đi, bố chưa đói đâu. Ông lão đáp.
Người con dâu lộ vẻ không yên tâm. Chị ta lo bố chồng còn giận. Nhưng anh chồng đã nhắc trên giá xuống một chiếc bát to. Anh sẻ một nửa con cá và xới cơm nếp, cẩn thận để riêng ra. Anh đưa mắt ra hiệu bảo vợ ăn. Hai vợ chồng cùng ăn với nhau. Anh con trai ban đầu còn cầm đũa về sau cứ vắt xôi trong tay mà ăn ngấu nghiến. Chị vợ thì ăn nhỏ nhẻ từng miếng một. Chốc chốc chị liếc chồng và nâng bát che nụ cười tủm tỉm.
Bỗng ông lão lên tiếng, chừng như sau bao nhiêu lâu nghĩ ngợi:
- Tuổi già như tao không hề quên tạ ơn ai bao giờ. Nhưng có cái tao nghĩ mãi chẳng ra. Đảng và Chính phủ bày ra cái tập đoàn làm gì nhỉ? Nói thực, tao có thích vào tập đoàn đâu. Tao mà vào tập đoàn là tại mày, là vì tao không chịu nổi cái miệng thế. Có ngày đây rồi không dư dả đâu mà góp nuôi cha xứ được!
- Sao lại không? Mấy tháng nay cha vẫn sống đầy đủ đấy chứ!
Ông lão im đi một chập, hồi sau nói:
- Ngày mai chủ nhật thuyền về bến Quảng, tao cấm mày nói ra điều gì đấy nghe không?
- Ngày mai tôi có việc bận phải lên thị xã đấy bố ạ!
- Việc gì?
- Tôi đi họp thanh niên.
Ông lão tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Thế mày không đi lễ à... Mà thôi, cũng được, đã đi họp thì đừng đi lễ.
Anh con trai trả lời: - Tôi đi họp nhưng tôi cũng không bỏ lễ.
- Đi đâu thì đi nhưng giữ cẩn thận cái mồm anh đấy!
- Nếu nhỡ bà con biết thì sao?
- Làm thế nào mà biết được?
Anh con trai ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo:
- Bố nên nghe tôi, tốt hơn hết là đem trả số tiền bán cá lại cho ban quản trị tập đoàn đi bố ạ!
Câu nói của anh con trai như lời tuyên bố cuối cùng, như một tiếng chuông đánh vang lên lần chót. Chúng tôi nghe thấy hình như ông lão rít chặt hai hàm răng lại. Anh Năm Trường đập nhẹ vào vai tôi một cái. Tôi đinh ninh là nhất định hai bố con sẽ cãi nhau to. Cô con dâu cũng quả có nỗi lo như tôi. Chị ta phát nhẹ tay vào lưng anh chồng, môi bậu lại. May sao giữa lúc đó trên mặt bể có tiếng động cơ. Tôi khều anh Năm Trường nói khẽ: "- Tàu đến!". Anh Năm đứng lên nhìn, nhưng lắc đầu nói: "- Không phải!".
Chiếc "Maiascốpki" chưa đến. Đó là chiếc "Vĩ ngư" của Trung Quốc đi đánh cá về. Tàu chạy ngang mặt chúng tôi về mé phải. Có lẽ tàu đánh được nhiều cá lắm nên trông rất khẳm. Anh con trai nọ buông câu chuyện đang nói với bố, mải lo nhìn tàu. ánh mắt anh lộ vẻ thèm thuồng. Tàu chạy khỏi rồi, anh bảo vợ:
- Thích thật, giá mà cho tớ được đi đánh cá trên tàu thì tớ đi ngay!
- Thì anh cứ đi đi, có ai buộc chân anh ở thuyền đâu. Ông lão xen vào. Ngừng một lúc, lão tiếp lời:
- Mà cái thứ như anh người ta cóc có cần... Anh đi, tôi đây cũng chả thiết. Anh ở đây, anh chỉ độc làm khổ tôi...
Anh con nghe bố nói thì vùng cười:
- Không có tôi bố sẽ ra khỏi tập đoàn chứ gì?
- Không biết!
- Thế thì tôi chẳng đi đâu cả. Chừng nào bố thích được cái tập đoàn đó thì chừng ấy tôi mới đi!
- Ma quỷ! Mày bất hiếu bất mục thế thì Chúa không chứng cho mày đâu!
- Sao, bố nói sao? - Anh con trai hỏi lại.
- Tao nói Chúa không chứng cho mày. Mày mà cứ thế thì rồi mày chết sa địa ngục.
Anh con trai bèn cười nữa, và nói:
- Chưa biết ai sa địa ngục đấy. Tôi thì tôi cứ thẳng một mạch lên thiên đường cho bố xem!
Hai bố con cứ thế mà nói. Không khí dưới thuyền đã trở nên dễ chịu hơn. Dẫu sao, qua một trận cãi vã, họ vẫn là bố con ruột thịt với nhau. Nhưng riêng tôi, tôi cảm thấy cuộc cãi vã đến đây chưa phải là đã kết thúc. Từ lời nói đến việc thực hiện được ý muốn, người con sẽ còn phải vượt qua bao nhiêu khó khăn nữa. Tôi hình dung nỗi khó ấy mà lo thay cho anh. Nhưng bây giờ tôi trông anh có vẻ ung dung chứ không vội vã. Sau khi thôi nói với bố, anh ta day qua cọ cọ nằm lên đôi vai tròn trĩnh của vợ. Anh áp miệng nhá nhá hàm răng lên cái đôi vai đó. Chúng tôi không nghe họ nói thêm gì nữa. Vừa lúc ấy, chợt có tiếng người cấp dưỡng gọi. Cháo đã chín, bay mùi hành thơm phức. Tôi với anh Năm Trường rời chỗ ngồi. Đồng hồ tàu điểm mười một giờ. Tôi xuống cabin đánh thức anh em dậy. Chốc sau chúng tôi đã quây quần ở quầy lái, múc chuyên tay nhau những bát cháo cá tươi. Anh Năm Trường đem chai rượu ra rót vào những chiếc cốc sứ nhỏ. Trước khi ăn chúng tôi mời ông lão thuyền cá. Ông lão từ dưới thuyền đáp: "- Cám ơn các bác, chúng tôi vừa mới lỗi cơm xong!". Anh Năm Trường bưng một cốc rượu bước ghé ra mời ông lão. Nhận ra rượu, ông lão cảm ơn nhiều lượt, rồi hai tay đỡ lấy cốc rượu uống thẳng một hơi. Uống xong lão "khà" một tiếng khoái trá. Anh Năm Trường lại rót một cốc khác nói rõ là mời anh con trai. Nhưng anh ta lắc đầu:
- Tôi không biết uống đâu!
- Sao lại không? Uống đi chứ, một hớp thôi...
Và mặc dù anh con trai từ chối, người thuyền phó vẫn nài anh ta uống cho được. Ông lão chuyển cốc rượu ra sau lái với vẻ mặt ngạc nhiên trước sự thay đổi thái độ của người thuyền phó đối với con mình. Người con gái e thẹn tiếp lấy cốc rượu nơi tay ông lão đưa lại cho chồng. Anh con trai không từ chối được, bưng lấy cốc. Tôi mỉm cười nhìn anh bưng cốc rượu uống. Hẳn chỉ có riêng tôi với anh Năm Trường là hiểu được ý nghĩa của cốc rượu tặng ấy. Sau đó, chúng tôi cùng húp cháo nóng một cách ngon lành. Nhưng gương mặt của thủy thủ ngồi quanh tôi đều đỏ hồng lên. Trên trán họ lấm tấm rịn ra những giọt mồ hôi nhỏ. Lúc sắp ăn xong, đồng chí hoa tiêu kêu lên:
- Tàu đến kia rồi!
Tôi buông thìa cháo đang ăn, nhìn ra khơi. Quả nhiên thấy có ánh đèn tàu xuất hiện ở cuối mặt bể. Đồng thời chợt nghe từ phía ấy phát lên những tiếng nổ rất ấm. Vô số những pháo hoa xanh đỏ, vàng từ tàu "Maia" bay vọt lên không trung. Chúng tôi reo hò thích thú. Mọi người đều hiểu. Đêm nay đúng là đêm kỷ niệm Cách mạng tháng Mười, các thủy thủ Liên Xô bắn pháo hoa để chào mừng ngày lễ lớn.
ánh đèn tàu "Maia" mỗi lúc một đến gần. Đèn tàu sáng rực như đèn điện ở một vùng phố nhỏ. Tôi đến cởi hộ dây cho chiếc thuyền lưới. Ông lão gò lưng kéo mạnh sợi dây buộc lòng. Cánh buồm nâu từ từ bị lôi sểnh lên. Tiếng chuông trên buồng lái reo giật. ống khói tàu khọt khẹt như người hắt hơi. Chiếc thuyền lưới tách ra khỏi tàu, xa dần. Tôi chỉ còn vừa kịp nhìn thấy chiếc lưng vạm vỡ và đôi vai rộng của người con trai. Rồi bóng thuyền khuất mất trên mặt biển tối.
Tôi bảo anh Năm Trường:
- Anh Năm à, tôi e rằng bọn mình vừa rồi ăn phải mấy miếng cá không được xã hội chủ nghĩa lắm.
Người thuyền phó đồng hương của tôi đáp:
- Tớ thì tớ nghĩ khác. Tớ tin là anh con trai sẽ thắng ông bố!
Bấy giờ tiếng máy khởi động mạnh làm thành tàu rung lên. Đèn tàu bật sáng, chân vịt sau lái bắt đầu khuấy nước ùng ục. Tàu chúng tôi quay mũi nhằm hướng chiếc "Maiaxcốpki" mà chạy lướt tới. Tôi đưa mắt nhìn từng chùm pháo hoa ngũ sắc đang bay múa tuyệt đẹp từ trên lưng chừng không là là buông xuống, chiếu sáng những ngọn sóng hình lưỡi búa.
Trước mũi tàu, sóng nước bị rẽ ra, vỡ tan, đầm đìa ánh sáng. Còn các vì sao xanh biếc trên trời kia thì cứ như là cùng lướt đi theo tàu chúng tôi không đành lòng tạm biệt.
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Đoản Khúc Vùng Sậy Khô

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Trạm xe ở sát bìa làng, tiếp giáp với vùng sậy vàng khô có ngọn đong đưa trong gió, ngọn rạp xuống mấy gò đất còn chồi gốc cây đen đủi. Xa và cao hơn nữa, cắt vằn trên nền trời đang ửng một sắc xanh xám những thân cây nghiêng vẹo, lòng khòng, chưa chịu đổ sau trận cháy rừng một năm nào đó. Trong mắt người đàn ông bên kia con đường, cảnh tượng tựa bức tranh vẽ đám hình nhân khỏng khiu cong lưng nhún nhẩy một vũ điệu Phi Châu. Đã mấy hôm rồi ông ta đến ngồi đây từng chiều, trên băng ghế gỗ ngoài sân cỏ, sau cái bàn sắt tròn cũng khập khiễng như bà chủ quán thì thọt ra vào. Mớ tóc xoăn xoăn, sợi dây cột cái váy quanh vòng bụng xoắn tít vài vòng rồi thả một đường dài theo vết cà phê hay có thể là một lằn xốt cà chua xót lại. Cổ áo rộng, lệch quá bầu vai bày màu da nâu đỏ như thách đố tất cả cơn gió rừng thô bạo. Gương mặt bà ta cũng nở nang cùng tỉ lệ và khác hẳn lưỡng quyền hẹp thó của gã đàn ông, không biết là chồng hay người giúp việc của bà ta, suốt buổi lum khum lau chùi ly tách sau quầy, ít nói. Cũng chẳng hiểu ở đâu ra lắm cốc đĩa vào cái giờ chiều rơi lưng lửng vắng khách này. Tài xế các chuyến xe hàng chạy qua thường chỉ dừng ăn uống lúc rạng ngày, đứng trưa hay khi đêm xuống. Những chiếc xe đò chở hành khách liên thị trấn hiếm khi có nhu cầu đỗ lại. Ngoài ra, mỗi mình ông ta với cốc cà phê dưới gốc cây và hai ba người trong quán, lắm lúc tất cả im lặng cơ hồ sự tẻ vắng ngột ngạt đã lất qua từ không gian rừng trụi bên kia. Nhưng có khi vẳng ra tiếng đối đáp ồm ồm, tiếp theo là giọng cười to rồi bỗng nhiên hất lên, tắc nghẽn của người đàn bà. Một vài lần ông ta nghĩ, đáng lẽ nên vào góp dăm câu cho phải lệ nhưng lại thôi. Thật ra ông chẳng có việc gì khác hơn là ngồi chờ chuyến xe buýt đổ từ con dốc. Chiều nào lúc khoảnh này, nó cũng dừng đúng ngay trạm ấy, cây cột gỗ lém vết lửa, đầu xệch xạo tấm bảng nền xanh lợt lạt với tên làng kẻ chữ vàng cam, mọc nghiêng trên mô đất.


Mấy ngày nay, con bé ấy hiện ra trong tấm áo len đỏ sau khi chiếc xe đậu lại giây phút rồi tiếp tục trườn đi. Cũng nhờ thứ màu rực rỡ đó ông mới có thể xác định bên cột trạm xe có một người đã đứng. Con bé không nhỏ lắm, sợi tóc dài thường vắt qua trước ngực, cổ lại quấn một chiếc khăn trắng như người lớn, nhưng chẳng biết sao ngay lần đầu tiên người đàn ông đã thấy hình ảnh này mơ hồ, không thực. Phải chăng vì nhân dáng mong manh thanh mảnh ấy hiển lộ quá bất ngờ sau cái thân xe cồng kềnh thô lỗ. Cô gái nhỏ đứng dừng một chốc, mắt thoáng bay qua khỏi con đường, nhưng chắc chỉ là cái nhìn vu vơ. Cử chỉ vu vơ này sao ông thấy quen thuộc lạ. Chân mang đôi giầy cổ cao, cô bé lững thững bước vào vùng sậy khô. Cỏ lau vàng ngỏng lên lất phất, màu áo đỏ lúc ẩn lúc hiện, trồi lên trụt xuống theo từng gò đất giẫm qua. Có lúc cô nhỏ leo lên đầu một thân cây cháy cụt ngó về phía rừng xanh ở mút xa, rồi lại bước xuống, quanh quẩn tiến sâu hơn vào khu vực những thân đen Phi Châu khiu gầy cong quíu. Buổi đầu nhìn thấy, ông ta hốt nhiên sợ hãi, đứng vụt dậy định chạy sang ngăn cản, nhưng con bé đi đến một biên giới đó thôi rồi dừng lại, ngồi xuống trên mô đất cao. Khoảng cách giờ đã quá xa, ông chỉ còn bắt gặp một chấm đỏ nổi trên màu xám mờ của nền trời lằn ngoằn những đường vẽ bởi cây rừng đen cháy.


Thời những chấm đỏ của đèn xe thành phố rào rạt đi về, có đêm ôm tay ông đi giữa lòng đường nàng nói, Nếu không có tình yêu em sẽ mất phương hướng, sẽ chạy theo những chấm đèn loạn mù kia. Người đàn ông thuở ấy vô tình, Em đi đâu được khỏi thành phố, ngoài kia là vô định. Nàng buông lơi cánh tay ông, rút cổ sâu trong tấm lụa quàng vai đáp nhỏ vu vơ, Tới một làng ven biển, một mảnh rừng. Kéo nàng vào trên hè phố tối ông chỉ lên cao, Đêm ở biển và rừng chỉ có đom đóm, em hãy nhìn kia, sau những ô cửa tầng lầu ấm áp ánh đèn, con người đang yêu nhau đằm thắm. Có phải lúc nào cũng là tình yêu không anh, nàng hỏi, hay họ đang hành hạ nhau dưới tia sáng trần trụi của đêm. Đừng nghĩ thế em, đêm là dịu dàng cùng say đắm. Ngây ngất như mỗi khi ông cúi xuống trên trũng ngực trắng trần và hai cánh chân duỗi dài, nàng xoải bung những bờ cát đón chờ triền biển sóng. Ông cố cầm giữ hơi sức căng dưới bụng, nghẹn trong ngực, nứt trên môi để thì thào bên tai nàng, Ngắm họ đi em, tình yêu hai kẻ ấy lịm sâu vào da thịt sau ô cửa một bóng đèn. Nàng nấc lên níu cứng những ngón tay vào đùi ông, Hãy vỡ trong em và mình trôi ra biển, biển tối mênh mông tràn tận đời, đâu cần hải đăng, anh tắt đèn đi. Thành phố có tiếng xe rạt vũng mưa, có kẻng tàu điện từng chặp cùng lũ chim không ngủ nên oang oác rủ nhau đập cánh xạt xào. Cuộn mình, co cả hai chân sát gần tới ngực, nàng sờ tay trên mi mắt ông, Anh vẫn thức. Ừ, nhìn em ngủ. Không, em đang suy nghĩ. Có được bao giờ phút bên nhau, hãy biết an tịnh, mình còn cả đời để đặt muôn ngàn câu hỏi. Nhưng anh đi rồi, ai trả lời cho em về sự linh diệu của cuộc đời. Chính bí ẩn là nguồn gốc của linh diệu, em biết không. Bao lần anh cứ hỏi em biết không, nhưng anh nói đi, hạt cát khi lọt vào tận cùng đáy thẳm sẽ ra sao. Con sò sẽ ủ lấy hạt cát và quết bồi tinh mật để thành viên ngọc. Anh nhầm, không phải ngọc mà là sự sống, hãy gieo trong em sự sống. Nhưng rồi anh phải đi. Thì em sẽ đem nó về biển hay rừng. Chẳng được đâu, hai vai em gầy guộc quá.

Chiều lúc ấy bồng lên cơn nắng hoang rưng rức. Trên mái tóc nghiêng thêm chiếc mũ mây, dưới tấm áo len một màu váy xanh nhạt. Trông xa, cô gái nhỏ có vẻ vui hơn thường lệ, nhảy chân sáo trên các mô đất, thỉnh thoảng dừng ngắt vài ngọn bông lau hình thếp lúa. Rồi lại tung tăng đi tiếp, cánh tay đong đưa, người đàn ông tin rằng cô bé đang hát. Nàng hay cất tiếng hát vào những buổi sáng vừa thức dậy, thong thả chuồi dưới vòi sen, chơi cùng những bọt xà phòng. Nhưng cũng lắm khi nàng nấc nao giọt lệ, hốt hoảng quay sang tìm cánh tay ông vì một nỗi xúc động thương cảm nào đã đập xuống từ cơn mộng bàng hoàng. Đàn chim vượt ngang khu rừng xanh rồi chấp chíu sà xuống xúm quanh cô bé giữa đám sậy, chẳng vẻ gì sợ hãi. Cô nhỏ chạy đùa với chúng một chốc rồi thoắt đi nhanh, sâu vào bãi cây cháy. Lần này thì người đàn ông đứng bật dậy, tách cà phê đổ loang trên mặt bàn chênh nghiêng. Vội vã chạy sang bên kia bờ đường, đất nhiều ngày thiếu mưa khô khốc. Chẳng thể để con bé vào nơi hiểm nguy ấy, ông thốt lo âu không ngờ. Đừng quá muộn, ông đã đi tìm nàng quá muộn. Có lần nàng nói về tình yêu tinh khôi như thiên nhiên nẩy sinh trong trời đất, không chọn lựa chỉ cho đi thật tận cùng và ước ao nhận lại một sự sống nhỏ nhoi để dưỡng nuôi thân phận. Bây giờ ông trở về sau những hành trình hệ lụy của mình để nhận chân mầm sống ấy thì thành phố không còn nàng. Ai đó nói rằng có thể nàng đã đi đến một ngôi làng tiếp giáp với cánh rừng. Lũ chim nghe tiếng chân tức tốc cất cánh rào rào bay vụt, hướng theo dãi nắng đang hút về và đọng lại trên tấm tranh cong queo dáng người nhảy múa. Phải chi lao được theo cánh chim, đến ngay bên con bé và giữ nó lại gọn vòng tay. Trong mất biệt dấu tích nàng và giữa không gian thiêu rụi này thì tấm áo đỏ và bóng dáng nó bỗng đâu xuất hiện, ấm áp một thân thuộc lạ lùng. Nhưng cỏ sậy quấn quíu nào dễ đi như ông tưởng khi ngắm nhìn cô nhỏ nhảy chân chim. Đứa bé ấy có thực hay chăng, sự hiện diện đơn độc trên bãi đất hoang khô này đã là điều không tưởng. Hẳn nó chẳng đến đây mỗi chiều chỉ để dạo chơi, ông từng thấy con bé đứng lặng gần bờ rừng, đầu cúi xuống trầm tư một lúc lâu. Nó làm gì, kiếm gì, nghĩ gì, ông nào biết. Nhưng sao thoắt chốc nó đã biến mất trong mắt ông tìm suốt vùng không gian rộng. Ngực người đàn ông chợt nhói lên, chân vấp vào rễ cây chằng bện những cành lau ngã rạp. Bỗng có tiếng hát nhỏ lẫn trong ngọn gió vừa thổi dạt về mấy bóng mây, cô bé từ cây cối cháy nám đang trở lại đây. Tay một nắm cúc dại trắng lấm tấm nhụy vàng, hai túi áo len cũng cắm đầy hoa ấy. Hóa ra vùng mô bãi này vẫn còn mọc lên sự sống. Con bé trố mắt nhìn người đàn ông trước mặt, môi mấp máy định nói nhưng chỉ nở nụ cười kéo theo ánh mắt long lanh. Cặp mắt nàng vẫn có đuôi diễu cợt và nụ cười thoáng nét tinh nghịch mỗi sáng chợt trở mình, leo chập người lên ông khúc khích. Chẳng còn biết mình là ai, ông muốn ngả xuống giữa đám sậy vàng hay quì ngang tầm mắt con bé để nói một câu, nhẹ nhàng thôi. Hay chỉ để bắt lại một núm gì tươi trẻ từ sự hồn nhiên sáng rỡ của nó, mới đi nửa chặng mà niềm yêu đời một sớm một chiều lặn đi với ánh sáng rút nhanh vào chân rừng mù mịt. Nhưng chuyến buýt cuối cùng ngược về làng vừa réo còi ngay dưới dốc, cô nhỏ vội vàng tay chặn mũ tay cầm gấu váy chạy băng băng. Dường như không phải chạy mà lướt bay trên các mô đất, nên nhanh đến nỗi khi ông đuổi theo tới bờ đường thì chỉ kịp nhìn thấy những ngón tay cụp cụp vẫy chào. Thò đầu ra khỏi cửa kính xe, con bé buông xuống cho người đàn ông nắm hoa cúc trắng.

Hôm sau mưa bất ngờ cuốn theo cơn gió nam lồng lộng. Chạy được tới căn quán thì chuyến xe buýt đã đi qua, ông đứng lại bên trạm đỗ, đưa tay vuốt mãi làn nước tuôn xối xả trên mặt, tấm bảng giờ chỉ còn dính vào cột bằng một đầu đinh lắc loạn cuồng. Mắt cố tìm bóng con bé trong vùng đất mà gió hất tung mưa, tưởng chừng như sóng đánh. Đám cây cháy sém khô cằn vẫn cố chống chọi với đất trời giờ đã đầu hàng, buông xuôi đổ sập trên nhau. Chắc con bé chẳng dại gì ra đây giữa bão tố này, ông lẩm bẩm nhủ lòng đi vào trong quán, thả tấm thân ướt mèm trên nệm ghế. Có vài tiếng lao xao, có mùi rượu nồng và chất gì tuôn vào họng không ngừng. Ông muốn hỏi bà chủ quán một câu về cô gái nhỏ khi bà ta đem tới một tấm khăn rồi chẳng nói chẳng rằng trùm lên đầu ông, kín mít. Cố giằng ra mà không thoát khỏi, mạng lưới càng lúc càng quấn chặt, xoay xiết quanh đầu. Ông ngất ngư gắng mở mắt nhưng chỉ thấy tung tóe tia lửa, trước sáng rực mầu sắc như pháo bông sau bất chợt tàn đi, trở thành những đốm nhấp nháy nhỏ nhoi của đàn đom đóm ở đâu túa về đập vào mấy khung cửa sổ căn phòng ông giữa thành phố cao. Ông nằm chông chênh trên chiếc giường năm cũ, chăn gối rũ tung lệch lạc trên người. Tìm nút bật ngọn đèn nhưng bàn tay chỉ quơ vào khoảng không trong bóng tối. Cái lạnh se sắt khắp châu thân, ông vội kéo chăn đắp làn da trống trải. Tấm chăn càng lạnh lẽo, không hơi người, không mùi hương quen thuộc của nàng, thứ hương dâu ngát thơm vào độ chín. Thảng thốt ông gọi tên, chẳng tiếng nàng đáp lại. Chợt cửa mở đâu đó, bên kia đầu giường dáng áo mềm ai bước vào phòng và ánh sáng đèn nhóa lên ngũ sắc. Chưa kịp ngửng cổ trông ra, người ông đã bị phủ ập bởi cả một thân thể mềm đầy, rạo rực. Những tưởng nàng đã về, ông cuống vội dang cánh tay, mở vùng chân nhưng đầu óc thoắt chao đi vì mùi hương quá sắc, quá nồng. Biết mình sắp lịm, ông cố mở mắt nhìn, loáng thoáng những sợi tóc xoăn xoăn và môi son đỏ vạch hai đường ngay trên bờ vai nở nang rượm nắng. Hốt hoảng ông vung tay xô tấm thân đè ngợp trên mình, mái tóc cuốn lọn bị hất tung, trong khoảnh khắc lộ ra một mảng da đầu cháy nám sần sùi từ màng tang chạy vẹt sau tai. Cặp mắt người đàn bà nhìn ông sắc xanh niềm đau đớn.

Nắng mênh mang đã trở về sau trận mưa cuồng bạo, nhưng không gian trước mặt trống lặng, cả lũ chim cũng bỏ đi như thể chẳng còn gì để chúng đùa vui khi cô gái nhỏ bỗng biệt tăm. Ông ta ngồi lặng ở đấy, muốn nói với người đàn bà một câu gì, ngay cả chia sẻ nỗi nặng lòng, dù có thể chỉ nhận được cái nhún vai thờ ơ, ai hơi đâu để ý đến trẻ nít, có điên mới thẩn thơ trong bãi rừng cháy rụi. Thế mà nào ngờ khách đông, bà ta tíu tít bận rộn. Không dưng hai chiều nay người ta ngừng xe vào quán, mùi chim trĩ treo cho thịt sống ôi ương rồi mới nấu, mùi bò hầm nhũn trong rượu vang chen với mỡ nai thui lèo xèo trên hai thanh củi đỏ làm ông lợm giọng. Gã đàn ông mặt hẹp chạy như thoi giữa những bàn ăn, quầy rượu và trục quay nai ngoài sân cỏ. Người đàn bà thỉnh thoảng đi ra, cái nhìn ái ngại lạ lùng bám trên những chiếc ly cạn rượu ông chẳng ngừng cầm lên đặt xuống tựa đang chơi một bàn cờ. Nhưng có tiếng khách gọi, cốc đĩa xôn xao, bà ta vội chạy vào trong quán sau một thoáng nhíu mày. Những sợi tóc càng xoắn hơn trong cơn gió tây bắt đầu thổi mạnh. Không đừng được, tia mắt người đàn ông bất chợt như vuốt sắc, chỉ muốn cào ngược chúng lên để kiểm chứng hình ảnh buổi chiều giông bão hôm trước là thực hay từ cơn mê sảng.

Trên tấm tranh ông từng đối diện, từ hôm cuộc đi tìm nàng đưa đẩy đến đây, những hình nhân đen đúa phần lớn đã đổ sụp trong cơn mưa thác loạn. Màu nền tái đi rồi lan ra, tan loãng ra vô tận. Người đàn ông tưởng mình sắp bị hớp vào một khoảng trống kinh hoàng thì chợt tiếng còi xe gọi rất gần. Không chần chờ nữa, ông hấp tấp chạy ngay sang trạm đỗ mà chiều nay chỉ còn cây cột gẫy trụi trên mặt đất, tấm bảng có lẽ đã phiêu du vào khu rừng ấy. Người tài xế thấy ông vẫy tay mới dừng lại, ít ai xuống nơi này ngoài con bé và đôi lần có người đến quán. Thoáng ba bốn hành khách cùng ngó ông, kẻ lạ. Bác lái xe gật gù, Vâng, con bé hết đón xe đến đây ngay từ hôm trời bão. Chỉ về phía những ngôi nhà thấp thoáng ông hỏi, Nó ở làng ấy. Không, cái làng cuối tuốt trên xa. Người đàn ông thẫn thờ, nói như một mình, Tại sao nó bỏ đi. Bác tài xế vội vàng, Ầy, mỗi năm con bé chỉ tới đây độ vài hôm, cứ vào mùa khô này, hình như bố nó đưa về, mà cũng la2 Bác ta chưa dứt lời, một người đàn bà ngồi hàng ghế giữa bỗng lên tiếng, Không phải cha nó đâu, ông ấy nhận nuôi con bé sau tai nạn đó thôi, vậy mà chịu khó thế đấy, nó là đứa nhỏ sống sót trong trận cháy rừng này đây. Bấy giờ, ông già gầy guộc ngồi gọn lõm bên cạnh hơi nhỏm người lên, nói góp, Năm đó hạn hán chưa từng thấy, chuyến xe đò liên tỉnh bị nổ máy lật lăn vào bờ rừng, bốc cháy, trên xe không mấy người, có hai mẹ con nó nghe nói tính đến ở vùng mình, đem theo nhiều hành lý, ai cũng cứu được chỉ cô ta không thoát, cơn gió khô phừng lửa cháy loáng một phần rừng. Rồi tự dưng ông già đứng bật dậy trong xe, chỉ sang bên kia đường, Chính bà chủ quán này lúc đó chạy lao qua, cố lôi hai mẹ con ra khỏi xe, thế là bị lửa xém một bên đầu, suýt chết.


Chiếc xe mất dạng đã lâu sau mảnh rừng xanh dưới con dốc, người đàn ông vẫn đứng lặng ở mô đất còn trơ gốc cột trạm xe giờ đã gẫy đôi nơi vệt lửa. Trong sân cỏ, người đàn bà từ quán đi ra với chiếc khay trên tay, hướng mắt tìm kiếm, ngó sang. Bắt gặp ông đứng đó, bà ta cũng sững người bên cái bàn chênh chao. Tấm váy và mớ tóc lất theo ngọn gió đang bốc lên, quần xoay những tán dẻ tây giương xòe thật rộng như tận tình che chở cái quán nhỏ đơn độc. Bước chân mộng du, ông băng qua đường, kịp nghĩ mình phải ôm giữ lấy mái tóc ấy để nó đừng bay đi, dù biết chẳng nói được lời gì với bà ta. Vết nám người đàn bà và linh hồn bỗng chốc cháy trụi như cây rừng của ông thì không thể nào bay đi được nữa. Sang đến bờ sân, quay đầu lại, ông ngỡ ngàng, hình như con bé đang bước tung tăng, màu áo rực lên trong tia nắng cuối ngày giữa những nhành cỏ sậy đung đưa. Nó cười, nụ cười của nàng một đêm nào khi nói về tình yêu và sự sống.

Mai Ninh
(từ một lần đi, 2001)
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
nguồn: http://www.hopluu.org
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Tình Yêu Đất

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Lão Túc bổ liên tiếp năm sáu nhát cuốc thật mạnh. Lưỡi cuốc vạt từng mảng đất lớn, kéo ngã sấp xuống. Vết cắt láng nhẵn như có thoa mỡ. Mặt đất cỏ mọc dày, vết cuốc cắt đứt rễ cỏ chằng chịt nghe "rạo" một tiếng ngọt. Chốc chốc là một cây sục sạc, một bụi mắc cỡ, một cây găng bị ngã theo mảng đất. Ðất mới tỏa ra một hương thơm nồng, ấm, ngai ngái. Ðó là thứ mùi quen thuộc lão vẫn thường ngửi mùi khi vào tháng Năm, lưỡi cày của lão xốc từng mảng đất thổ, khi vào tháng Hai lưỡi cuốc của lão bổ xuống từng nhát mạnh để cuốc cỏ mía. Nơi vết thương của lòng đất vừa mở, hơi nóng tỏa nhẹ lên làm lão ngây ngất và khiến lão nghĩ rằng đất là thứ da thịt có cảm xúc.
Ở quanh rìa đám đất, những gốc duối, gốc móc, ó, móc mèo nằm ngổn ngang hoặc chồng chất lên nhau. Gốc nào cũng vặn vẹo, sù sì, mang từng dải, từng chùm, rễ dài. Chúng đợi khô để chui vào bếp lửa.
Lão Túc chống cán cuốc đứng nghỉ. Mồ hôi điểm giọt trên khuôn mặt, họp lại chảy thành dòng xuống má xuống râu. Da mặt đen xạm như một gốc tre bị hun khói. Nếp nhăn chằng chịt cày sâu trên khuôn mặt, bao quanh đôi hố mắt trũng xuống, bao quanh cái miệng móm. Lão không mặc áo mà chỉ đánh một cái quần đen bạc màu xắn lên đến đầu gối. Da ở ngực, ở lưng, ở đôi cánh tay ống chân cũng đều hừng hực một màu nâu cháy, màu của những choé rượu bằng đất nung già lửa chảy men.
Mặt trời đã đứng ở đỉnh đầu. Hai con chim bạc má đuổi nhau kêu chi chách ở bụi cò ke um tùm gần đó. Lão đi lại gần ấm nước, với tay cầm lên tu một hơi dài. Nước chảy từng dòng xuống ngực, xuống bụng. Lão đưa mắt nhìn một vòng khu đất vừa khai phá. Bờ ranh sát với đường cái đi, lão để chừa một hàng gai bàn chải làm hàng rào. Ðầu kia là cái ao nước mọc đầy rong đuôi chồn màu xanh già. Những chòm rau chóc đứng ven bờ đơm từng chùm hoa tím nhạt.
Khoảng đất này nguyên là đất bỏ hoang mọc đầy gai bàn chải. Bỏ hoang từ bao giờ; lão không hề biết vì hồi còn nhỏ lùa bò đi qua đây lão đã hồi hộp lo sợ khi nhìn rừng bàn chải âm u, vắng lạnh. Hồi ấy nơi đây còn có một cây đa to. Thân đa đầy hang hốc, rễ buông sù sì và hỏa lò vỡ, bình vôi bể chất ngổn ngang ở gốc cây. Một không khí ma quái rùng rợn phảng phất, nhất là khi nhìn lên chân núi đứng kề đó, lão thấy ngổn ngang những nấm mộ. Người sống đi lại, buôn bán nói chuyện, cãi vả ở đầu xóm và giữa xóm. Người chết nằm yên lặng ở cuối xóm nơi chân núi, dưới những ngôi mộ. Khu gò hoang này, người trong xóm gọi là Gò Ðình. Chắc hồi xưa nơi đây có cái đình. Bây giờ thì trong óc người dân xóm, Gò Ðình là tượng trưng cho một cõi, một miền xa xôi hoang vắng nhiều rắn rết, nhiều ma quái. Những lời truyền trong xóm không thiếu gì để tô điểm cho cái không khí âm u huyền bí nơi đây. Có người nói đã gặp, chỗ này; một đôi rắn thần to bằng cột nhà, dài bằng mười thước và trên đầu có mào đỏ. Có người nói hòa thượng chùa Ðồng Mạ đi qua đây giữa khuya đã gặp một con quỷ màu trắng toát cao đến đọt cây gạo. Hòa thượng bắt quyết, nạt to lên một tiếng và con quỷ tan đi. Biết bao nhiêu câu chuyện rùng rợn nữa làm cho lão, hồi nhỏ, ngồi chồm hổm bên bếp lửa mùa đông, mở to mắt say mê nghe và cứ xích dần vào gần đống lửa.
Lớn lên, già đi, lão không còn sợ ma, sợ quỷ nữa. Ðã từng chứng kiến bao nhiêu cái chết, cái chết của cha mẹ, của họ hàng, của người quen, của người lạ, của người già và người trẻ, lão thấy nếu người chết có hóa ra ma thật thì lão sẽ không ngạc nhiên khi gặp. Lão tưởng tượng mình có thể đứng nói chuyện với ma được. Và nếu ma có rủ lão chết thì lão cũng sẽ chết theo, miễn chết sao cho nhẹ nhàng êm thấm, đừng đau đớn. Ðời lão có gì sung sướng đâu mà lão tiếc?. Lên sáu tuổi đã phải đi chăn bò cho người ta. Lên mười lăm tuổi thì cầm liềm cầm hái đi gặt. Rồi thì cày ruộng, tát nước, gánh mạ, cuốc cỏ... Có bao giờ lão được an nhàn ấm thân đâu? Hết thời Tây đến thời Nhật qua thời kháng chiến, lão mơ ước có một đám đất của mình để gieo hột giống của mình, cắt lên bó lúa của mình, nhưng không bao giờ lão có được. Sống gần hết đời người mà lúc nào cũng chỉ có trên tay một cái rựa, trên vai một cái cuốc, trên đầu một cái nón lá rách tả tơi. Nhìn người ta có đôi bò, đôi trâu, có đụn rơm đứng ngất nghểu ở góc sân, có bồ lúa nằm oai vệ ở giữa nhà, lão thèm thuồng một cách tuyệt vọng. Ông Xụ kêu người ta tới cân bông. Ông Lá nhắn người ta đến hốt đường. Ông Quyền bán lúa, ông Lâm bán bắp... Mọi người nhà nông đều có một món gì để bán ra. Ngày mùa, họ lo âu hoặc hớn hở. Còn lão; lão luôn luôn đóng vai người ngoài cuộc, lúc nào cũng chuẩn bị đổ mồ hôi ra dưới ánh nắng để làm lấy công. Lão không có dịp, lão không có quyền lo lắng và hy vọng. Bấc sớm hay nồm trễ, lúa nhe kịp trỗ hay lúa ba thóc mới đòng đòng, đó là câu chuyện của người ta, chỉ dính dáng đến người ta. Lão cũng muốn nói góp vào, nói cho đậm đà câu chuyện nhưng mà tủi thân biết bao khi câu chuyện chấm dứt. Vì khi về với thực tế, lão lại chua xót thấy mình không hề có một vạt lúa, một nắm bắp, một nương khoai.
Một hôm lão chợt nảy ra ý kiến khai phá Gò Ðình. Vợ lão e dè phản đối:
- Chỗ mồ mả rắn rít...
- Gặp mồ mả thì mình lấy cốt.
- Biết vậy nhưng mà...
Vợ lão không nói hơn. Ngoại trừ những chuyện cụ thể như nồi cơm trách mắm, con chó con mèo, cây rau cây chuối... còn thì mụ không nói lý luận được. Lão Túc cặm cụi phát một mớ bàn chải cho ngã xuống sau mười ngày phơi nắng, lão chất đống lại đốt. Từng nhát cuốc bổ xuống. Những đống bàn chải khác lại tiếp tục được phát xuống, được đốt đi. Từng nhát cuốc bổ xuống. Kiến càng, kiến lửa, kiến bù nhọt táo tác chạy loạn. Thằn lằn, rắn mối, kỳ nhông chạy "rẹt" vào bụi rậm khi nghe bước nhân thình thịch, nhát cuốc phầm phập. Cào cào, châu chấu, bọ ngựa, dế trũi, dế mèn nhảy tới tấp, bay rào rào về phía trước mặt, nơi gai góc và lá xanh chưa bị tàn phá. Tháng Bảy nền trời nặng những tảng mây vẩn đục. Cơn mưa dông đầu mùa ào xuống. Nơi khoảnh đất vừa khai phá, lão đánh vồng trồng khoai lang. Giữa hai vồng khoai, lão rắc bắp. Nơi bờ ranh, lão gieo hột mướp, bí ngô. Ven bờ cái bàu nước, lão trồng rau muống, rau húng, rau ngổ, cà dĩa, cà dái dê. Lão cắm những hom củ mì. Lão giăm những đọt mía. Lão muốn trồng đủ thứ, đủ thứ vào trong cái giang san bé nhỏ này của lão. Nhất định là không có một diện tích nào bỏ trống. Lão thương yêu từng mảng đất nhỏ. Nhổ một bụi cỏ dại nhưng trước khi vất đi vào bụi râm, lão phải cẩn thận đập chùm để cho bao nhiêu đất bám vào đó phải rụng xuống vào giang san của lão. Nhiều lần thuận tay chụp một hòn đất định ném theo một con dông đang đào hang bươi những rễ khoai, lão chợt ngừng tay lại bỏ hòn đất xuống rồi đảo mắt tìm một mảnh sành, một viên đá. Lão sợ hòn đất lọt ra ngoài bờ đường, làm gầy mòn đi cái giang san của lão. Lão thương đất như thương con, như thương chính da thịt của mình. Có những buổi chiều mùa Hạ, lão trải chiếu manh xuống đất rồi nằm ngửa mặt nhìn trời. Da trời xanh láng nhuyễn như thịt một con mực vừa cắt ra. Một tiếng sơn ca rung rinh trên từng cao. Lão cảm nghe ấm áp tựa nơi lưng mình là mảnh đất thân yêu, mảnh đất của mình, mảnh đất chắc chắn là của mình, nhẫn nại sinh ra khoai lúa là để cho riêng mình. Còn ai thương lão hơn mảnh đất này không? Con lão thì bỏ lão đi. Nó mê gái hơn cha. Lão nói với nó:
- Hết mùa cày, thằng Lợt, mày phụ tay với tao phá rộng thêm miếng đất Gò Ðình.
Thằng Lợt im lặng, lầm lì không trả lời.
- Chừng nào tao chết thì mày có miếng đất đó để trồng trọt làm ăn. Có một miếng đất đỡ hơn là suốt đời chỉ đi làm mướn.
- Giàu có gì, miếng đất đầy mồ mả đó.
Lão Túc quắc mắt nhìn con, chồm người tới trước trong một tư thế tự vệ. Câu nói của thằng Lợt mổ vào tự ái của lão, bất ngờ như lão vừa bị một con ong châm nọc. Nó xúc phạm tới mảnh đất của lão. Lão giận dữ quát lên:
- Mày nói sao? Ðất sao lại mồ mả? Ðất nào không mồ mả? Công tao khai phá, đổ mồ hôi cục, mồ hôi hòn xuống đó. Mày...
Giọng lão run lên. Thằng Lợt bỏ đi ra chuồng heo. Thực tình thì nó đâu có ghét đất? Nó sở dĩ chán hết cả cày, cuốc, trâu, bò là vì con Tỵ sắp đi Phan Thiết làm ăn.
Cô con Tỵ bỏ xứ đi hoang mười lăm năm trời, mới về thăm quê. Mụ mặc áo ni-lông và đeo đồng hồ tay. Mụ nói giọng Sài Gòn. Mụ bảo: "Ði ở đày tớ cho người ta ở thành phố còn sướng hơn có ruộng ở nhà quê. Mỗi tháng lãnh lương bốn, năm trăm đồng, để dành uốn tóc, mua đồng hồ và may áo ny-lông". Con Tỵ nghe nói mê mẩn quyết đi vào Phan Thiết nơi cô nó ở. Thằng Lợt nghe tin đau xót trong lòng. Nó như người mất hồn để cái gì đâu quên cái đó. Con Tỵ rủ nó cùng đi. Nó ngần ngại vì nhút nhát. Từ nhỏ đến giờ chỉ mới nghe đi xe ngựa tới Phú Tân. Tuy Hòa xinh đẹp làm sao. Quy Nhơn sang trọng như thế nào, nó chỉ mơ ước và sợ sệt mà không dám mong đi tới. Nó khuyên con Tỵ đừng đi. Nó bày chuyện đem ra dọa con Tỵ. Nhưng con Tỵ chỉ thò lò mắt ra nhìn, lông nheo dày đặc, lông mày rậm ri. Ðó không phải là loại đàn bà biết sợ. Nên thằng Lợt cuối cùng phải lén quấn mớ áo quần cũ trốn nhà đi theo nó.
Thằng con bội bạc! Bây giờ nó ở đâu lão đâu có biết. Mê gái bỏ cha bỏ mẹ, bỏ quê hương làng xóm. Ðó, nuôi con cầy cục từ nhỏ chí lớn, thế là lớn lên có nhờ nó được gì không? Mảnh đất trung thành với lão hơn. Và hiền lành nữa. Hơn cả vợ lão.. Vợ lão ăn hiếp lão thường xuyên, nói một tiếng thì mụ trả lời lại mười. Mụ xô vào giằng co với lão, đập thùm thụp vào lưng lão. Lão nhịn. Hôm nào vô phúc lão nổi hăng lên cãi lại mụ thì chiều hôm đó lão phải nhịn đói. Mụ nằm dài trên giường đắp chiếu rên hừ hừ, nhất định không xuống bếp. Thằng Lợt bỏ nhà ra đi theo con Tỵ, cả xóm đều biết nhưng mụ cũng nhất định đổ tội cho lão, bảo rằng tại lão mà ra. Láng giềng của lão thì cũng chẳng ai hiền lành hơn. Họ nhìn xéo và liếc trộm. Ðó là những người cũng nghèo như lão. Những người giàu, những ông hương ông xã thì gọi lão bằng "thằng cha Túc". Khi lão để râu dài, người ta gọi là "lão Túc". Mấy cán bộ trẻ tuổi có người gọi lão bằng "cụ", nhưng lão phải trả lại bằng rất nhiều tiếng "dạ", "dạ" trước câu nói và "dạ" sau câu nói. Rốt cuộc chỉ có mảnh đất này là để cho lão an lòng, để cho lão nương tựa. Nó không phản bội lão. Ðất không phản bội người, chỉ có người mới phản bội đất. Người dậm chân thề nguyền rủa sả rồi bỏ đi. Ðất vẫn ở lại nhẫn nại trung thành. Khi người về, người cứ tưới mồ hôi xuống là đất lại nảy ra lá xanh, đơm hoa, kết trái. Lão dang tay đặt xuống mặt đất. Lão duỗi chân cho chân kề sát đất. Lão lăn qua nằm úp mặt xưống đất. Khối đất vững chắc nặng trình trịch nằm câm nín như khuyến khích lão an tâm. Ðất không vồn vập đón mừng, nên đất cũng không lạnh nhạt xua đuổi.
Qua tháng Mười bí ngô bò chằng chịt lên bụi bờ gai gốc nở những nụ hoa vàng lớn. Lá bí lá mướp xanh rờn rợn che kín những thân gai xương xẩu, như truyền cho lão sức sống dồi dào tươi mát. Thân bắp vươn lên căng ứ nhựa, lá óng ánh chao đi chao lại thêm gió phe phẩy. Rồi bắp trỗ cờ, hoa vàng rung rinh thả từng trận mưa phấn nhẹ mỏng như sương. Rồi bắp răng chàng nhu nhú trong bẹ. Trái bắp lớn dần, no tròn thêm, căng những hột non dưới lần bao. Những con ong vò vẽ, ong bầu, ong mật bay vù vù rộn rã suốt ngày, chui vào hoa này, bám lên hoa kia làm nhộn nhịp cả một khu không khí. Vành khuyên chích choè gọi nhau, trả lời nhau, đuổi nhau từ cành này sang cành khác. Một cặp chìa vôi bay đến đậu, nói chuyện liến thoắng. Ðúng là những đứa lắm miệng lắm mồm. Tiếng con chim gáy đổ hồi ở nơi xa hơn, chầm chậm, buồn buồn như tiếng đếm nhịp của một ông giáo già dạy học ở nhà thờ. Chào mào nghe ồn àn cũng rủ nhau tìm tới, cất tiếng chuyện trò. Tiếng chim ở trước mặt, ở sau lưng, ở bên trái, bên phải chen chúc lẫn lộn vào nhau. Sau một hồi làm náo loạn khoảnh đất yên tĩnh này, chúng vội bay đi mất hết để lại một mình lão với tiếng cuốc phạt từng nhát xuống đất, chầm chậm đều đặn, tiếng một cành cây bị bẻ gẫy, tiếng một chùm lá cọ xát vào nhau. Có khác gì cuộc đời của lão đâu? Hội hè, đình đám, Tết nhất giỗ chạp, giọng cười bên ấm trà, câu chuyện vui trong khói thuốc... Tất cả chỉ là những món trang điểm nhất thời. Lầm lì, chịu đựng, cán cuốc bóng nhẵn trong gan bàn tay, ánh nắng rung rinh đốt nóng tròng mắt, đó mới là cuộc đời thực của lão. Những buổi chiều đi về nhà, tay cầm trái mướp mới hái, đầu đội thúng khoai mới dỡ hay một xâu trái bắp tròng vào cán cuốc vác lên vai, lão thấy lâng lâng vui sướng, chân bước nhẹ nhàng. "Mảnh đất của mình! Niềm thương và hy vọng của mình!" Từng chặp lão bắt gặp ý tưởng ấy nó cứ len lõi, như lấp kín trong óc lão, không chịu rời.
Mỗi ngày cái khoảnh đất của lão mỗi nới rộng ra. Những bụi duối to được chặt đi và lão hì hục dùng xà beng nạy cho bật rễ, kéo đặt nằm trên mặt đất trông như những thân người quằn quại đau đớn.
Một buổi chièu trên đường về nhà, lão Túc gặp ông chủ tịch xã. Lão đưa tay trái lên gãi đầu, miệng lí nhí một lời chào:
- Dạ thưa thầy...
Ông chủ tịch tươi cười:
- Thầy bà cái gì. Thời đại bây giờ. Ở dưới đất về đó hả?
- Dạ.
"Ở dưới đất về", bốn tiếng đó làm mát một nơi nào trong bụng lão, trong tâm can của lão. "Ở dưới đất về", bốn tiếng lão thường nghe ông Phó Hai, bà Hương Năm hay nói mỗi khi gặp ai hỏi "đi đâu về?". Ðất đây là đất trồng mía, trồng bông, trồng mè, trồng đậu. Họ xuống đất để trông coi công cày, công gieo mạ hoặc công cuốc cỏ. Khi hoa vụ lên, họ xuống dưới đất để ngó chừng ăn trộm ăn đạo. Tới ngày hái bông đạp mía, họ xuống dưới đất để thu hoạch hoa lợi. "Ở dưới đất về" là tiếng dành riêng cho nguời có của. Ở dưới đất về, ông Phó Hai đi chậm rãi, khua guốc lốc cốc trên đường xóm và tay cầm cái rựa cán dài. Tha hồ chặt cây dọn bờ với một lưỡi rựa bén ngọt như vậy. Bờ dậu bao quanh đám đất bao giờ cũng um tùm cây cối. Chúng mọc lấn ra, vươn chồi, trỗ lá choán cả lối mọc của mía đậu, che tàn rợp giành giật ánh sáng và không khí của mía của đậu. Lão tưởng tượng lưỡi rựa phát xuống, dứt lìa những cành cây ươn ngạnh và gian trá. Thật sung sướng là tấm lòng người chủ miếng đất nâng niu bảo vệ cây trái của mình và chinh phạt tàn nhẫn lũ cỏ cây dại. Ở dưới đất về, bà Hương Năm quằn vai dưới sức nặng của đôi giỏ đựng đầy tai bông trắng xóa. Ở dưới đất về! ... Ðó là điệp khúc của một bài ca làm say sưa tâm hồn lão như mới ngày nào đây, lúc còn thanh xuân, lòng lão rung động theo câu hò điệu hát huê tình:
Tình thương quán cũng như nhà,
Lều tranh có nghĩa hơn tòa lẫm cao
Giờ đây lão đã có một miếng đất để mà đi về, đã có từng đám cây trái để mà bảo vệ, có bờ bụi phản loạn để mà chinh phạt. Lão không còn là thứ người "hai tay đấm hai cùi" thứ người chỉ có đôi dép cao su và cái rựa, thứ người chỉ sống nhờ vào sự thuê mướn của kẻ khác. Niềm vui đó theo chân lão mà về đến nhà.
Mụ Túc đang lục đục trong bếp. Có tiếng một cái cối tiêu bị hất văng lông lốc trên nền đất. Có tiếng nồi cơm đặt nặng một cái "thịch" lên trên mặt rế. Mụ làm lụng bao giờ cũng nặng tay. Chẳng cái chén, cái dĩa nào được nguyên vẹn với mụ. Không mẻ miệng thì cũng nứt ngang nứt dọc. Lắm hôm phải lật cái khu chén lên để đựng nước mắm. Lão vừa đi ngang qua cửa bếp định cất cái cuốc xuống khỏi vai thì có tiếng đũa bếp quật mạnh đánh bịch một cái và tiếp theo, tiếng con Mực la oẳng oẳng vừa tháo chạy ra sân. Thân mình nó oằn oại. Nó ngã lăn xuống đất, kéo lết đôi chân sau vừa nhe trắng cả hai hàm răng. Tiếng oăng oẳng phát ra từ cái mõm lởm chởm đó như cũng có góc nhọn. Chúng kéo dài, đuối dần, rời rạc dần. Trong bếp, tiếng mụ lầm bầm:
- Ðồ quỷ sứ, ăn hỗn hào. Ðụng chỗ nào cũng thọc mỏ...
Lão bước trở vào bếp. Mụ chụp ngay:
- Con mẹ Cốc đó hả? Mồ tổ cha mày, sao mày không đem cái chày lại trả cho tao? Nói mượn một chút mà giữ chết ở đằng đó. Nhà tao có ai đâu mà sai. Ôn hoàng dịch tể hại mày.
Không nghe có tiếng trả lời, mụ ngước lên nhìn và thấy lão:
- Thằng già này nữa. Không phải sao không lên tiếng? Ði qua nhà mụ Cốc đòi cái chày về.
- Ðòi chày làm gì? -Lão ôn tồn hỏi.
- Ðòi chày làm gì không biết hả? Ðể về tế cha tui phải không? Không thấy cái cối ớt kia sao?
Lão nhìn xuống cái cối nằm nghiêng ở gần ổ gà. Một con gà mái đen nằm trố mắt nhìn lại lão. Hai trái ớt vàng ra xa ở dưới chân rổ bát. Lão nói:
- Ðòi hỏi cái gì. Không có chày thì lấy đũa mà giằm cũng được.
Lão cười hì hì một tiếng nhẹ tiếp theo. Tức thì mụ ném vung đôi đũa bếp:
- Còn cười nữa? Tức chết người ta đi. Hết nước mắm, hết củi, cơm sống. Nấu một nồi cơm mà thổi lửa hết hơi.
Lão đi lại lượm từng chiếc đũa bếp, gõ vào nhau cho sạch đất. Lão tiến tới gần mụ. Mụ tránh ra, thủ thế, nhưng lão chỉ đặt nhẹ một bàn tay lên vai mụ.
Mụ hất tay lão ra:
- Dẹp! Dẹp!
Lão cười hề hề. Niềm vui của lão khiến lão thấy thương hại cho mụ vợ lùng khùng vùng vằng. Giá gặp một buổi nào khác thì lão đã tiếp tay cho mụ xáng luôn cái bát xuống đất. Tiếp chân mụ đá luôn cái cối cho lăn tuốt ra sân. Không, một người có đất, đất mịn màng và màu mỡ như vậy, có đám lúa gục đầu ngậm sữa, có vạt bắp đang chao những cánh lá trong gió, một người sung sướng như thế không thể dễ dàng nóng giận. Màu xanh của lá, màu vàng của hoa, gió mát và hương thơm đang phảng phất trong tâm hồn lão khiến lão bình tĩnh và kiên nhẫn. Lão khom lưng ngồi xuống cầm cái ống thổi lửa thổi phù phù vào đám củi chà. Ðốm lửa sáng lên, đỏ rực, nới rộng ra, liếm vào cành củi, bật lên ngọn.
Bóng tối xuống êm đềm ngoài sân. Mùi thơm của hoa mù u nồng nồng. Sau bữa cơm lão bắc chõng ra nằm ở dưới hiên. Mụ ngồi se sợi đan võng ở cây cột gần đó. Bầy muỗi đói bay va vào chân lão khiến lão phải đập chan chát từng hồi. Nhìn vẩn vơ nền trời lấm tấm sao, lão dịu dàng thả tâm hồn đi lảng vảng về những chặng đời niên thiếu, trưởng thành của mình. Cũng dưới một nền trời sao nở lấm tấm như đêm nay, hồi lên chín tuổi, lão đã phải băng đồng một mình trong canh khuya đi lùng tìm con bê chạy lạc. Dân nhà nông ở hai làng Bình Hòa, Phú Mỹ cứ sáng phải lùa từng bầy bò đi hàng ba hàng bốn cây số xuống cánh đồng Hòa Mai, Hà Yến để có cỏ thả cho bò ăn. Buổi chiều lùa về, bầy này đi lẫn lộn với bầy kia vì con đường xóm hẹp. Ði cạnh những con bò cái hiền lành vô tư lự là những con bê con ngây thơ.Những chàng bò đực khác bầy khi gặp nhau thường chẳng mấy khi chịu yên. Chúng gầm đầu xuống khịt mũi, quào hai chân trước xuống mặt đất rồi xông vào nhau mà húc. Sừng đập chan chát. Bụi tung mịt mù. Bò cái bò con chạy tán loạn. Người đi chợ cũng chạy tán loạn theo. Chính trong một cuộc bò đực giao đấu đó mà con bê của lão chăn chạy lạc sang bầy bò khác. Lùng kiếm không ra. Phải lùa bầy bò còn lại về chuồng. Chịu năm quất roi mây có lằn ngang lưng. Chịu nhịn đói bữa tối đó và cời quần áo lội qua sông Cây Dừa đến từng chuồng bò ở hai làng Bình Hòa, Phú Mỹ mà kiếm. Bóng tối cũng dày đặc, êm và mềm như đêm nay. Sao cũng nở chi chít và hớn hở như đêm nay. Mỏi chân và đói, và lạnh, lão ngồi ở bờ sông mà bật khóc òa lên. Lão sợ cây roi mây dài của chủ. Mỗi lần vụt tới, làn roi xé gió nghe vút một tiếng dài và thân roi quấn tròn theo thân mình gầy nhom của lão. Nhức nhối như có lửa trong thân roi. Ri rỉ như có máu ứa ngay theo lằn roi.
Lão thở dài lăn mình trên chõng. Tiếng vạt tre cọt kẹt ở duới lưng. Lão đưa một ngón tay lên chấm ở khóe mắt, ngạc nhiên thấy đã có nước mắt đọng ở đó tự lúc nào. Lão quay sang bảo vợ:
- Hổm rày bà chưa xuống dưới đất thăm. Bắp đã trổ cờ dưới đó.
Tiếng ồm ồm của lão làm mụ Túc giật mình. Mụ đang xe sợi trên bắp đùi để trần mà mắt thì lờ đờ ngủ gục, mụ hỏi lại:
- Cái gì? Nói cái gì?
- Bắp trổ cờ ở dưới đất mình.
- Tưởng cái gi. Làm người ta giật mình.
- Mai bà xuống vun gốc với tôi.
- Mệt! Tưởng năm sở bảy sở gì. Có một vạt đất bằng bàn tay mà cũng làm rộn.
Lão lại cười hề hề:
- Một bàn tay cũng là đất, năm sở bảy sở cũng là đất. Tao có một bàn tay thì tao rộn theo một bàn tay.
Mụ ngáp dài tỏ ý không muốn nghe nữa nên lão cũng chẳng thèm nói thêm. Nói với đầu gối còn hơn nói với con mẹ này. Lão nằm lắng nghe tiếng gió thổi xào xạc trong lùm cây sung, tiếng dầm chèo gõ lộp cộp trên be thuyền đang bủa lưới ở mé sông. Bao nhiêu tiếng đó đều quen thuộc với lão, ghé lại chặng nào trong Quá Khứ lão cũng đều gặp nhưng mà riêng đêm nay lão đã thấy thiết tha thân mật. Quả tình niềm vui của ban chiều đã theo lão không rời và trong giấc ngủ chập chờn dường như lão chiêm bao thấy toàn những giạ lúa đổ thành đống, thành đống cao, rộng mãi ra cao vút lên, vô biên, tràn ngập khắp cả. Chỉ toàn những lúa là lúa.
Ngày thu mát lạnh tiếp theo ngày hè nóng nực. Cái ao con ở góc mảnh đất mỗi ngày một hẹp chu vi. Ðất lấn ra ở ven bờ, đất chụm lên rơm khô cỏ khô, đất bò đến đâu là cây cà dây muống tiếp chân đi theo, châm rễ xuống để giữ cho đất khỏi lở. Lâu lâu giữa lúc đang cuốc đất lão chợt nghe tiếng con cá vẫy đuôi một cái mạnh dưới lòng ao. Lão dừng cuốc quay lại nhìn vừa mỉm cười lẩm bẩm nói: -À! vẫy mạnh đi con. Ðợi hôm nào ông bắt về um một chảo.
Lời hăm dọa có đượm vẻ thân tình. Nếu một ngày nào lão thả lờ hay úp nơm mà bắt được cá thì chắc lão sẽ ôm cá lên tay mà nhìn như ôm một người bạn. Và lão sẽ ăm thịt người bạn đó, ngon lành, âu yếm. Khi mặt trời lên cao nước ao ấm áp thì rồng rồng bơi lội từng đàn. Cá sặc, cá rô thi nhau đớp móng làm rung rinh mặt nước. Hoa súng vươn mình lên cao xòe nở từng cánh trắng. Mặt ao trông giống cái khăn trải bàn có thêu thùa lá hoa rậm rạp.
Một ngày tháng Mười năm đó, ông thư ký địa bạ của xã đi ngang qua đám đất, lấy chân gạt tấm cửa ngõ bện bằng chà gai tre, lững thững bước vào. Lão đang cởi trần cuốc cỏ đám mì, vội vã quay lại. Lão mời ông thư ký vào ngồi ở cái chòi nhỏ. Vừa đặt đít ngồi lên vạt liếp tre, ông thư ký chép miệng:
- Chà! Ở đây gió mát quá. Ngủ trưa thì sướng tuyệt.
Lão "dạ" một tiếng rụt rè.
- Chòi này cụ làm để giữ dưa?
- Dạ giữ dưa giữ bắp luôn thể.
Lão móc túi đựng thuốc ra mời. Thuốc xắt mỏng như sợi râu mày xanh úa. Lão nói:
- Mời ông thư ký hút thử. Thuốc này là giống Vân Hòa tôi xin được vài chục cây đem trồng ở góc kia.
Lão đưa ngón tay chỉ về phía đám thuốc đang ra hoa. Những cành lá dày, rộng, mọc ở dưới chân đã bị tướt hết. Khói thuốc phì phà đầy nghẹt cái chòi nhỏ. Chợt ông thư ký đằng hắng một tiếng lớn rồi trịnh trọng nói:
- Mấy bữa nay xã phát động công tác kiến điền. Ai có ruộng đất đều phải làm tờ khai. Cụ...
- Dạ, thưa ông thư ký, đất này là đất bỏ hoang tôi mới phá vỡ.
- Tôi biết... tôi biết... -ông thư ký vội ngắt lời- Cụ khai để đứng tên làm nghiệp chủ kẻo sợ sau này có người tranh đoạt.
- Dạ.
- Ðất khai hoang thì cụ được ăn hoa lợi năm năm khỏi phải đóng thuế.
- Dạ.
Thấy ông thư ký ngồi im lặng không nói tiếp, lão lúng túng hỏi:
- Nhưng mà cách thức khai báo...
- À, cụ cứ ra trụ sở xã rồi anh em làm giùm cho. Cốt là cụ phải đo đạc miếng đất theo chiều dài, chiều ngang rồi tính diện tích.
Những tiếng "chiều dài, chiều ngang, diện tích" khó hiểu khó nhớ làm cho mặt lão nhăn nhó lại.
- Ðược rồi. Ðể tôi bày cho cụ. Biết chưa? Cụ đo một bề này, -ông thư ký giơ ngón tay chỉ- coi nó được mấy thước. Biết chưa?
- Dạ.
- Rồi cụ đo bề này, - ngón tay lại chỉ về một phía khác,- Biết chưa?
- Dạ.
- Xong đâu đó, cụ ra trụ sở xã, chúng tôi tính toán giùm cho.
- Dạ.
Tiễn chân ông thư ký xong, lão loanh quanh nghĩ đến việc đo đất. Ðo bằng cái gì bây giờ? Thước đâu mà đo? Cả năm cả đời có bao giờ lão mó động đến cái thước? Ðơn vị đo lường của lão là gang tay, sải tay, đòn gánh, cây sào. Ðơn vị nhỏ thì chi li bề bộn hơn: lóng tay, mút đũa, mút chìa vôi, hột bắp, hột gạo, hột kê, con mọt... Cái ngạch địa này rộng năm gang... mặt trời lên hai sào... cái mụn bọc to bằng mút chìa vôi.. đóng cái răng cối xuống thêm nửa hột gạo... đó, những dụng ngữ thông thường mà tai lão hằng nghe, miệng lão hằng nói. Lão đi rảo nửa xóm mới mượn về được cái thước. Lão nối chắp hai sợi dây gàu làm một và đo đủ năm thước. Nơi mỗi đầu dây lão cột một thanh củi vót nhọn. Lão đợi một đêm trăng sáng và rủ vợ cùng đi để mụ giúp tay với lão, nhưng mụ ương ngạnh cãi lại:
- Tui không biết đo đạc tính toán.
- Thì ai biểu mụ đo đạc? Mụ chỉ cần cầm một đầu dây rồi tôi sai gì mụ cứ làm theo.
- Từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới giờ tui đâu có đất có ruộng mà biết làm theo?
Giọng lão nằn nì:
- Mụ chịu khó một chút mà.
- Không.
Im lặng một phút, chợt mụ oang oang lên như để phân bua với hàng xóm:
- Ðo đo đạc đạc... đạc điền đạc thổ cái gì... Làm như giàu lắm. Ðo cái gì lại để ban đêm mới đo? Quá là đi ăn trộm.
Lão uất người, nạt một tiếng:
- Im đi. Cha mày. Cái miệng như cái mõ làng.
Và lão vội vã xách cuộn dây gàu đi tuốt. Cái mõ oang oang sau lưng lão. Thật là đồ ngu. Lão đã chọn ban đêm để đừng ai xoi mói nhìn vào công việc của lão. Lão ngượng như khi sung sướng mà bị ai bắt gặp. Như ngày Tết mặc áo mới. Như ngày cưới vợ, lão đi đón dâu bị hàng xóm chạy ra đường xem mắt. Lão lầm bầm trong miệng những tiếng rời rạc, vô nghĩa.
Ðến đám đất, lão cởi áo vắt trên cái chòi theo thói quen. Ðêm mát lành lạnh. Mặt trăng sáng trắng như cái dĩa bạc chạy vun vút trên nền trời không mây. Lão đi lại một góc rào vẹt cành cây, lá cây để cắm sát một cây nọc xuống. Lão cầm đầu dây kia chậm rãi, tránh những cây dưa, nhảy qua những vồng khoai... đi cho đến lúc sợi dây căng thẳng mới dừng lại. Lão cắm cái cọc thứ hai xuống. Miệng dõng dạc đếm: Một.Tiếp theo, lão giật mạnh sợi dây cho cây cọc ở góc rào nhổ lên, lão thu dây vào lòng bàn tay rồi chậm rãi bước tới cho đến khi sợi dây lại căng thẳng dưới tay lão. Cứ như thế, chầm chậm, nghiêm trang, lão đem hết tâm hồn mình ra để cắm ngay ngắn chiếc cọc để kéo thật thẳng sợi dây, để dõng dạc đếm: Một... Hai... Ba... Bốn... Không được mất một thước đất. Phải đo cho hết, phải đếm cho đủ. Lão cứ mong sao cho đất dài mãi, dài mãi vô tận ở dưới bước chân mình. Ánh trăng chao qua chao lại, rót chảy theo lòng lá môn lá bắp nghiêng nghiêng. Lão lắng nghe tiếng chó tru ở các xóm rải rác xa xa, tiếng con ếch ồm ộp ở bờ ao, tiếng dế ri rỉ như xỉa xói vào bóng tối.
Khi đã đo đủ hai chiều, lão lẩm nhẩm đọc thuộc những con số, những con số kỳ diệu đang biến lão thành chủ nhân của một sản nghiệp do mồ hôi và bắp thịt của lão gây dựng nên: sáu dây bốn thước chín tấc, bốn dây... Lão học thuộc dãy con số đó trên đường về. Lão học thuộc dãy con số đó khi vục gáo vào lu múc nước rửa chân, khi leo lên chõng nằm, khi lơ mơ đợi giấc ngủ đến.
Sáng hôm sau, lão đi đến trụ sở xã. Suýt tí nữa thì quen tay cởi bật cái áo ra để tìm chỗ vắt. Lão quen ở trần nên da chai đi, mặc áo vào một lát thì thấy nực và ngứa ngáy. Ông thư ký địa bạ tươi cười chào trước:
- A, cụ Túc. Thuốc lá của cụ hút đậm hơn thuốc Cùng Sơn. Hôm nào hái ủ được nhiều nhiều, cụ nhớ để giành cho tôi một ghim. Ðã đo đám đất xong chưa?
- Dạ, mới đo hồi hôm.
- Ðược bao nhiêu?
- Dạ, sáu dây bốn thước chín...
- Sáu dây là cái gì? -Lông mày của ông thư ký nhíu lại.
- Dạ, thưa quên. Tôi lấy cái dây để đo. Mỗi dây năm thước.
- À, được. Mời cụ lại bàn đây.
Lão tìm chỗ để đặt nón rồi tiến lại cái bàn giấy. Ông thư ký rút một tờ trong chồng giấy có in chữ sẵn đặt ở mép bàn, vừa mở nắp bút máy.
- Cụ tên gì?
- Dạ, Nguyễn Ðương.
- Không phải tên Túc à?
- Dạ không. Nguyễn Ðương là tên trong bài chỉ thuế thân.
- Sanh quán, chánh quán? Làng Ngân Sơn phải không?
- Dạ phải.
Ngòi bút chạy rèn rẹt trên giấy.
- Làng Ngân Sơn... tổng An Sơn... Quận Tuy An... ông thư ký vừa đọc to vừa viết. Y như trong một lớp học. Cái miệng đang đọc rang rảng của ông thầy giáo. Bàn tay nhẫn nại cầm bút của học trò. Miệng ông thư ký méo xệch, uốn éo theo đường đi của ngòi bút.
- Thổ canh nhất khoảnh. Bề dài bao nhiêu?
- Sáu dây là bốn thước chín tấc...
- Sáu dây vị chi đi ba mươi thước.
Ông viết những con số thật to, chầm chậm, cẩn thận, tô đi tô lại nhiều lần.
- Bề ngang?
- Dạ, bốn dây ba thước cộng với ba là hai mươi ba thước tám tấc...
Lão Túc chăm chăm vào đầu ngòi bút. Nét chữ đều đặn hiện ra, nhẹ nhàng, ngoằn ngoèo khiến lão muốn chóng mặt. Như khi ngồi xe đổ xuống dốc xe uốn mình theo con đường lượn vòng và ở dưới mắt, dải sông, lùm cây, xóm chợ, ruộng lúa chao qua chao lại. Ông thư ký không hỏi lão nữa mà đang nhíu khoặm đôi lông mày xuống để tính toán:
- Tám lần chín là bảy mươi hai, viết hai nhớ bảy. Tám lần bốn là ba mươi hai với bảy là... với bảy là ... ba mươi chín... với bảy là...
Ngòi bút gạch, xóa, bôi, sửa nhiều lần. Ông lấy thêm tờ giấy khác, lại viết, lại tính, lại bôi. Những vết nhăn ngắn cày sâu ở khoảng cách giữa hai chân mày. Lão Túc chắp tay đứng im lặng, chăm chăm nhìn. Lão có cảm giác mình đang phạm tội. Quấy rầy kẻ lớn! Lão chuyển sang sợ hãi khi chợt nghĩ đến sự lúng túng của ông thư ký. Ông ta có thể tính sai làm mất đi vài thước đất. Bao nhiêu là mồ hôi, là hơi thở phì phò, là gân cốt vươn lên cúi xuống mới có được một thước đất. Ngọn bút tài ba mà cũng ác nghiệt. Nó có thể xóa mất, một cách dễ dàng, bao nhiêu công lao của người ta. Một vệt đờm loáng thoáng ở đâu trong cổ họng bắt lão muốn ho nhưng lão không dám.
Tiếng đằng hắng của ông thư ký làm lão giật mình. Vẻ mặt tươi tỉnh, ông giơ ngọn bút vẽ một vòng tròn bao quanh con số thành như sợ để không thì nó trốn mất. Ông giơ tờ giấy lên xa đôi mắt một chút, chụm sát đôi môi lại rồi một tay xoa cằm, ông dõng dạc tuyên bố:
- Tám trăm ba mươi mét ca-rê.
Lão Túc hơi cong lưng xuống và "dạ" một tiếng nhỏ. Khi nhận ân huệ, mọi người đều cong lưng và nói khe khẽ như vậy.
- Cụ ký dưới tờ khai này đi.
Vừa nói, ông thư ký vừa ấn bút vào tay lão. Lão rùng mình khi tay chạm vào cán bút. Giọng lão thiểu não:
- Ông cho tôi... lăn tay.
- Không được. Thời đại bây giờ mà đâu còn có chuyện lăn tay điểm chỉ?
- Thưa ông, tôi cố gắng đi học bình dân mà tối dạ u mê quá, học đâu quên đó. Tay quen cầm cày cầm rựa nên hễ cầm bút là cứ tuột ra.
Ông thư ký cười to, nhìn xuống những ngón tay của lão sù sì cong vẹo như rễ duối rễ bàng.
- Thôi được. Ðưa tôi cầm tay cụ ký giùm cho.
Ông đặt cán bút vào giữa lòng bàn tay lão rồi nắm trọn bàn tay ấy kề gần mặt giấy đẩy lên đẩy xuống. Ngòi bút xóc giấy liên tục, mực toé ra như hoa cải.
- Cụ đừng đè xuống... để yên tôi lái cho.
- Dạ.
- Cái lưng cứ ngồi thẳng. Kìa! Ðừng đè chớ. Cầm lỏng lỏng cây bút một chút.
Khi ông thư ký ra lệnh "thôi" thì một chữ "Ðương" méo mó đã nằm yên trên mặt giấy. Tim lão đập rộn ràng. "Bút sa gà chết". Chẳng biết lão vừa ký nhận cái gì. Nếu đó là một văn tự vay nợ, một tờ giấy bán đất thì thật là rồi đời lão. Nhưng mà không có lý. Lão nghèo nàn thế này, ai nỡ lừa đảo lão làm chi. Cán rựa của lão bóng loáng vì phạt bờ chặt gốc trên mảnh đất đó, lưỡi cuốc của lão phầm phập tháng này sang tháng khác trên mảnh đất đó, nào ai còn không biết. Lão đem lòng thành ra mà ở với thiên hạ.
Trên đường về, lòng lão bâng khuâng rộn ràng. Mảnh đất của lão đã có tên tuổi, đã được làng biết đến, và công nhận chính thức. Nó được hiện hình bằng chữ trên một tờ giấy in, vuông vức ngay ngắn được xếp chung với hàng trăm tờ giấy khác, hàng trăm miếng đất miếng ruộng khác. Nó không là thứ đứa con hoang.(Ðất hoang cũng giống như con hoang vậy). Nó đã được công nhận, được xếp vào hàng ngũ bình thường. Tên của lão đã có trong sổ bộ bắt đầu từ hôm nay. Người ta gọi lão là nghiệp chủ. "Nghiệp chủ Nguyễn Ðương... thổ canh nhất khoảnh diện tích tám trăm ba mươi ca-rê..." Chẳng biết "ca-rê" là cái thứ gì. Nhưng hễ có "ca-rê" tức là có đất.
Lão vui chân rảo bước. Chân vấp phải một hòm đá đau điếng nhưng lão chỉ nhảy lò cò lên vài bước, xuýt xoa rồi thôi. Có chảy máu chút chút cũng không sao. "Tám trăm ba mươi ca-rê Nguyễn Ðương thổ canh nhất khoảnh..."
Ăn được một mùa lúa sạ thì bỗng một chiều kia thằng Lợt lù lù bước vào cửa. Chân nó đi khập khểnh. Lão hỏi, giọng bình thản như chưa bao giờ biết cảm động:
- Sao đi cái chân cà nhắc vậy?
Thằng lợt nhìn lầm lì xuống đất, trả lời nhát gừng:
- Tại xe nhà binh nó cán.
- Chớ con mắt mày để đi đâu? Ði sao không ngó trước ngó sau?
Thằng Lợt đổ quạu liền:
- Sao lại không có con mắt? Ðạp xe ba gác chở củi cho người ta, xe nhà binh chạy ẩu, qua "cua" phanh không kịp tán lăn nhào. Không chết là may.
- Sao không bắt người ta đền?
- Sao ông không vô đó bắt đền giùm? Bộ dễ bắt đền lắm hay sao?
- Ðó là tại mày lỗi.
- Lỗi cái gì? Tôi đi đúng luật.
- Thế thì mày giỏi.
- Chớ sao...
Câu chuyện cắt ngang ở đó, vô duyên, ngớ ngẩn. Hai cha con không lái nổi câu chuyện khiến nó đâm vào ngõ bí. Thằng Lợt đặt cái va-li làm bằng thiếc xuống chõng. Mụ Túc chạy lại xum xoe sờ mó. Mụ bảo nó mở khóa và mụ lôi ra nào bít tất cũ, sơ mi cũ, bài ca vọng cổ và lục cục nhiều món mà mụ không biết dùng để làm gì. Mụ cầm một cái đưa lên hỏi:
- Chai thuốc gì đây, mày?
- Thuốc gì? -Thằng Lợt nhíu mày- Ðó là lọ bi ăng tin chải tóc.
- Chá thằng này sang dữ. Còn cái áo gì mà cụt ngủn vậy? Bận làm sao?
- Cái đó mà kêu là cái áo? Cái xì líp. Bận thay quần xà lỏong.
Lão túc ngồi ở ngạch cửa nhìn vợ con, bực mình thấy vợ lão vồ vập một cách thái quá. Cái chân khập khễnh của thằng Lợt mới là điều đáng cho lão suy nghĩ, âu lo. Nó có còn đi cày được không? Nó có còn cuốc cỏ mía được không? Nó có còn khiêng nổi cái che không?
Chợt vợ lão hỏi:
- Mày còn tiền dư được mấy ngàn?
- Tiền ăn cướp hay sao mà dư? Nằm nhà thương thí hai tháng mới lành cái chân. Ðạp xe ba gác không được, chủ cho thôi. Phải xin một trăm rưỡi tiền xe về xứ.
Lão hỏi:
- Còn con Tỵ đâu? Sao nó không về với mày?
- Mắc mớ gì mà nó về với tôi?
- Là tao hỏi vậy thôi. Chớ nó không ở chung với mày sao?
- Thân ai nấy lo.
Mụ Túc chen vào:
- Thế hai đứa bay hết thương rồi sao?
- Thương cái gì nữa? Nó vô Phan Thiết theo người khác - À đàn bà là vậy đó -lão Túc thở dài- Nó vô trong đó làm nghề gì?
- Ban đầu, đi ở cho người ta. Bây giờ nó đi làm đĩ.
- Trời thần ơi! -Mụ Túc kêu lên.
Hai vợ chồng già nghĩ thương cho sự thất bại của thằng Lợt nên thôi không nói đến chuyện con Tỵ nữa. Riêng lão Túc, lão cảm thấy an lòng, mặc dù cái chân khập khễnh của thằng Lợt làm lão lo lắng vẩn vơ. Như thế là rõ ràng thành phố phụ bạc con người như lòng lão nghĩ. Chỉ còn đồng quê. Chỉ còn mảnh đất.
Hôm sau những nhát cuốc của lão giáng xuống mạnh hơn, những phát rựa chém xuống ngọt hơn. Lão thêm tình yêu đối với đất, đồng thời dự tính trong óc cũng nhiều hơn.
Ðể cho thằng Lợt nghỉ dăm ngày rồi lão sẽ bắt nó ra đây chặt phụ cây, đốn phụ chà với lão. Nó sẽ luôn luôn ở cạnh lão trên mảnh đất này. Có bị thành phố hất hủi nó mới chịu an phận trên luống cày. Tháng Năm tháng Sáu rỗi rãi việc đồng áng lão sẽ mạnh dạn phá thêm một khoảnh rộng nữa. Sẽ rắc một giạ giống lúa reo, sẽ gặt về năm mươi giạ lúa mới, phơi khô giê sạch. Lúa sẽ xô đẩy sào sào dưới chân lão khi lão đi cày lúa trên sân phơi. Lúa sẽ rơi rào rào trên nong khi thằng Lợt nâng cao thúng cho lúa chảy xuống từng lớp mỏng và lão cầm chắc cái quạt to đứng sau quạt phần phật. Mụ Túc sẽ đi đi lại lại lê cái chổi quét dụm những ngọn lúa lép. Bầy gà của lão sục sạo tha hồ trong đám rơm mới đập thơm nhát mùi lúa giập, mùi nắng, mùi bùn. Ngoài lúa ra, mảnh đất thân yêu còn sản xuất mỗi thứ một ít đủ cho lão dùng. Có bắp, có khoai, có mè, có đậu, rau cà... Tháng Chạp dây bầu, dây mướp quằn quại dưới sức nặng của những trái xanh. Tháng Giêng, những trái bí ngô nằm lăn lóc trên mặt đất phơi màu da vàng xanh loang lổ...
Lão buông ý nghĩ, đi dần về phía bụi ngô tìm ngắt hoa bí đực. Bí bò lan đầy mặt dất, lá xanh che kín một vùng, chỉ thỉnh thoảng nở vàng một hoa, lão rón rén đi nhón bước giữa đám lá um tùm. Trong cái vạt áo được cuộn lên làm bọc, hoa bí vàng chứa mỗi lúc một thêm nhiều. Hoa bí có vị ngọt của cánh đài, cánh tràng, có mùi thơm của phấn hoa. Mỗi buổi cơm chiều là có một rổ hoa bí luộc chấm nước...
Thốt nhiên dưới bước chân lão, lão nghe một tiếng "bóc". Một cảm giác tê buốt như tự đâu châm vào da thịt. Lá bí lay động rẽ ra một con đường hẹp cho một thân rắn trườn tới, thật mạnh, vun vút. Thân rắn màu đen sậm, óng ánh. Lão la lên:
- Trời ơi! Rắn hổ mang...
Tay trái buông xuống, vạt áo bị tuột ra, hoa bí rơi tung toé xuống đất, nằm gác trên lá. Lão bước ra khỏi đám bí. Máu ri rỉ chảy từ vết rắn cắn ở trên mắt cá chân mặt. Nhức ở nơi ấy, như có nhiều mũi kim châm tới. Sự đau nhức tiến lên rất mau, đến bắp chân, trên bắp chân như những lưỡi lửa liếm tới, tràn lan ra, tỏa xung quanh, như mép những đợt sóng con dạt vào bờ, tràn rộng, tỏa ra xa. Nhức lên đến bắp đùi. Lão hết bước được nữa. Chân trái run, lão kéo lê chân mặt. Phải gắng về nhà, cho thật nhanh. Rắn lục cắn dẫu độc nhưng còn dễ chữa. Nọc rắn hổ mun, hổ chuối còn có thuốc bài trừ. Chớ rắn hổ mang... Lão giận mình sao không lưu tâm đến cái hang rắn này hôm vỡ đất. Lão giận mình sao hôm nay hái hoa bí chi quá sớm. Hay là lão tới số rồi. Nghĩ đến đây, nước mắt của lão tuôn ra làm hai dòng, chảy vào miệng nghe mằn mặn. Lão nặng nhọc cố lê từng bước. Nhưng mỗi bước mỗi chậm hơn.Mỗi nặng hơn. Loạng choạng, mắt lão hoa lên. Từng vòng vàng, vòng đỏ quay cuồng lộn xộn. Còn năm thước nữa mới đến đường cái. Lão cố nhướng mắt lên, cố vận dụng sức lực chuyền đến đôi chân. Còn bốn thước rưỡi nữa. Lão loạng choạng, nhưng gượng cho khỏi ngã. Tay lão run theo chân. Vẫn còn bốn thước rưỡi nữa. Tai lão ù đi. Lão thấy lạnh ở hai vai, cái cổ cứng lại. Chân mặt của lão nặng như khúc gỗ. Có còn là chân của lão thật không? Lão cố nhìn xuống xem nó có còn đấy không. Nó đã rời ra chưa. Lão lặng người đi. Ðầu lão xoay vần. Bụi duối xanh, con đường vàng, bờ tre xa, dãy núi, vòm trời... chao đi, đảo lộn, xoay vòng, nhanh dần, mờ mờ, rung rinh. Lão ngã quỵ xuống đất.
Người đi qua trông thấy vực lão về nhà. Xóm giềng giã gừng, pha nước tiểu đổ cho lão. Lão tỉnh lại, đưa ngón tay chai sạn sù sì chỉ xuống chân ú ớ nói:
- Rắn hổ mang... mổ.
Mọi người "ồ" lên. Tiếng nói rào rào như sóng dậy.
- Chết! Chết! Trời ơi! Bị rắn cắn chỗ nào?
- Kiếm đâu cho có nước lò rèn?
- Ðâu phải chó dại cắn mà uống nước lò rèn? Mô Phật không biết ở gần đây có xương chồn đèn không.
Lời bàn tán kéo dài, bàn tán ở quanh giường lão, ở trước sân, ở ngoài ngõ. Lão Túc rên hừ hừ. Mỗi lần trở mình, lão la hét lên như có ai cứa dao vào thịt lão.
Tin lão bị rắn hổ mang cắn chuyền đi thật nhanh. Ông Câu Ðáp chuyên môn hốt thuốc Nam chống gậy đến. Mặt ông đỏ gay vì rượu. Chòm râu thưa, da mặt mỏng và bóng nhẵn. Ông lại gần, xích cái va li thiếc của thằng Lợt còn đặt nằm trên chõng, ghé đít ngồi xuống. Ông lật miếng lá xanh ai đã nhai đắp lên vết rắn cắn, ném "bạch" xống đất rồi dõng dạc hỏi:
- Ðứa nào đắp món gì đó?
Mụ Túc lật đật cung kính đáp:
- Dạ thưa ông Câu, tui nhai lá hẹ mới đắp lên.
- Hứ! Lá hẹ mà ăn thua gì?
Ông vén ống quần lão Túc, nắn bóp cái chân bị nạn. Nó sưng to gấp rưỡi cái chân kia. Da căng bóng. Lão Túc la rống lên như một con heo bi thọc huyết. Ông Câu Ðáp chậm rãi nói:
- Nếu thiệt rắn hổ mang cắn thì không cứu được. Mà cái điệu sưng nhức này thì đúng là rắn hổ mang.
Mụ Túc khóc òa lên chắp hai tay vái lia lịa:
- Lạy ông Câu, xin ông Câu làm phước cứu giùm.
Mặt ông Câu vẫn nghiêm trang lạnh lùng:
- Thì tôi cũng chữa cầu may. Không dám bảo đảm. "Gầm tại chỗ, hổ về nhà". Có hai con rắn đó là độc hơn hết. Mái gầm cắn thì chết tại chỗ. Rắn hổ thì về nhà mới chết.
Ông dừng câu nói, lể mể tháo lưng quần lấy ra một gói bọc lá chuối tươi:
- Ðem giã nắm bắp đóng chông này cho nhỏ rồi bỏ thêm chút muối.
- Dạ.
- Lấy xác đắp lên chỗ rắn cắn. Còn nước thì cho uống.
- Dạ.
Khi ông Câu Ðáp ra về thì láng giềng cũng lục đục về theo. Chỉ còn bà Gậy nhà ở liền trước lặt và ông Bộ còn nán lại. Lũ trẻ nhỏ hiếu kỳ thì tổ chức cuộc chơi đánh đáo ở ngoài đường, ngay cửa ngõ. Tiếng cười nói, tiếng cãi nhau ồn ào. Ở trong nhà, lão Túc vẫn rên, tiếng rên càng lúc càng mệt nhọc. Ðến xế chiều lão thở hổn hển. Hàng xóm đến thăm đông trở lại. Nhóm này bàn tiếp về phép chữa rắn cắn. Nhóm kia không tin rằng ngẫu nhiên mà lão Túc bị rắn cắn. Họ che miệng nói nhỏ vào tai nhau:
- Các đẳng ở đó... linh lắm.
Người nghe gật đầu khe khẽ và gật liên tiếp bốn năm cái.
Một nhóm khác thảo luận về việc đồng Tấn Lương bị khô nước, chủ rẽ kiện chức yển đập Sơn Chà. Mấy nhóm thanh niên tụ họp xa hơn, ở gốc ổi, gốc mít, nói chuyện nhân tình nhân ngãi, gả bán cho nhau rồi thích thú cười ngặt nghẽo.
Chợt ở trong nhà có tiếng mụ Túc khóc rống lên:
- Ớ ông ơi, sao ông thế này? Ớ ông Túc ơi! Hu hu...
Mọi người chạy đổ xô vào nhà. Người ta chen chúc nhau tìm một chỗ đứng. Mụ Túc quỳ bên giường, tóc xổ tung che nửa mặt. Thằng Lợt đứng khoanh tay gần đó, nước mắt chảy ròng ròng. Lão Túc nằm thở thoi thóp. Ðôi mắt đã dại. Ðôi tay mân mê giường chiếu. Chợt lão mấp máy môi. Mụ Túc kề sát tai lại gần lão. Mọi người im lặng. Lão nuốt liên tiếp những miếng đờm khò khè chạy lên tận cổ. Rồi lão thều thào nói đứt quãng:
- Miếng đất Gò Ðình.. thằng..
Mắt lão trợn ngược. Mụ Túc khóc òa lên:
- Ớ ông ơi! Ông bỏ tui ông đi một mình. Ớ ông ơi!
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com